Tái cơ cấu khoa học công nghệ: đẩy mạnh tài trợ khoa học và nâng cao tính hợp tác

(Bài viết của tôi đăng trên Tia sáng, số ra ngày 13/4/2015 với tiêu đề: Tái cơ cấu tài trợ và nâng cao hợp tác trong khoa học)

Năm 2015 là năm mà lãnh đạo Bộ Khoa học Công nghệ xác định là trọng tâm tái cơ cấu ngành khoa học công nghệ với các nội dung: “Tái cơ cấu hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập và toàn bộ hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ nói chung; Tái cơ cấu nguồn nhân lực ở các trình độ khác nhau và các lĩnh vực khác nhau; Tái cơ cấu đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ để không còn tình trạng chỉ có một nguồn kinh phí duy nhất từ ngân sách nhà nước; Tái cơ cấu nền tài chính dành cho khoa học và công nghệ, chuyển mạnh sang cấp phát theo cơ chế quỹ, giao cho các tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.”[1] Đây có thể coi là một chủ trương hợp lý để đổi mới nền khoa học công nghệ đang ì ạch và cần nhiều giải pháp để thực hiện “tái cơ cấu” thành công.

Tài trợ khoa học là một trong những nhân tố quan trọng cho phát triển nghiên cứu khoa học nhưng cho đến nay vẫn là một khâu còn tắc nghẽn ở Việt Nam. Các nhà khoa học trong nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các quỹ tài trợ, vốn hầu hết được tổ chức theo mô hình cũ kỹ, nặng về hành chính và sự minh bạch còn khá hạn chế. Trong bức tranh còn khá tù mù của quản lý và đầu tư khoa học và công nghệ trong nước, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) có thể coi như một điểm sáng đáng chú ý và phát triển. Sự hoạt động của từ năm 2008 có thể coi là một quyết sách đúng đắn và là một trong những cơ sở quan trọng để lãnh đạo ngành khoa học và công nghệ tái cơ cấu từ những thành công bước đầu của NAFOSTED. Sự thành lập và ra mắt Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia trong thời gian gần đây với vốn dầu tư ban đầu 1000 tỉ là một nỗ lực của Chính phủ trong việc đẩy mạnh tái cơ cấu và đổi mới việc tài trợ khoa học.[2] Từ sự thành lập này cùng với thành công bước đầu của NAFOSTED trong hơn 6 năm vừa qua trong việc tài trợ khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ có thể mạnh dạn phát triển mô hình tài trợ nghiên cứu với nhiều quỹ khoa học tương tự phù hợp với các hướng nghiên cứu mũi nhọn đã được Chính phủ phê duyệt.

Có nhiều ý kiến cho rằng cần tập trung nghiên cứu ứng dụng thay vì đầu thư cho nghiên cứu cơ bản, nhưng có một thực tế là nghiên cứu khoa học cơ bản vẫn đóng vai trò quan trọng ở bất kỳ quốc gia nào. Chính vì thế, nên thành lập song song các quỹ độc lập, giành riêng cho nhiều chương trình nghiên cứu. Ví dụ như quỹ nghiên cứu khoa học cơ bản giành cho các nghiên cứu khoa học cơ bản nói chung, quỹ nghiên cứu chiến lược, giành cho các nghiên cứu có định hướng theo chương trình nghiên cứu mũi nhọn của chính phủ (bao gồm các hướng ưu tiên: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo máy – tự động hóa, và công nghệ môi trường)[3] nhằm phân luồng các nguồn kinh phí cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc phân luồng này cho phép giảm đi sự cạnh tranh không cùng cơ sở và văn hóa khoa học của các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (ví dụ như việc so sánh hai ứng viên đến từ hai lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là một điều không mấy dễ dàng và công bằng vì cách thức và nền tảng tiếp cận khác nhau của hai ngành). Nó cũng cho phép các nhà nghiên cứu có thể tập trung và đào sâu nhiều ý tưởng nghiên cứu mới theo từng quỹ nghiên cứu để bổ sung thêm tài trợ cho nhóm nghiên cứu của mình. Ví dụ như một nhà nghiên cứu đề xuất nghiên cứu vật liệu mới, có thể nộp hồ sơ xin tài trợ ở quỹ khoa học cơ bản nếu như cách thức tiếp cận và đầu ra của đối tượng mang nặng tính chất cơ bản, tìm tòi tính chất vật lý mới. Nhưng khi nghiên cứu được phát triển ở mức cao hơn, anh ta có thể phát triển để xin tài trợ ở quỹ đổi mới sáng tạo khi nghiên cứu đó đã tới bước có tiềm năng thương mại hóa, ứng dụng. Cách thức tổ chức các quỹ này có thể học tập kinh nghiệm từ nhiều quốc gia như Vương quốc Anh với nhiều quỹ nghiên cứu (research council) như EPSRC (Engineering and Physical Sciences Research Council) tài trợ cho các nghiên cứu vật lý, kỹ thuật, BBSRC (Biotechnology and Biological Sciences Research Council) tài trợ cho các nghiên cứu y – sinh học và khoa học sự sống, AHRC (Arts and Humanities Research Council) tài trợ cho các nghiên cứu nghệ thuật và xã hội nhân văn,..[4]; hoặc Đan Mạch với các quỹ DFF (The Danish Council for Independent Research) bao gồm nhiều các quỹ nghiên cứu nhỏ tài trợ cho các nghiên cứu độc lập từ cấp độ postdoc tới các nhà nghiên cứu đầu đàn, Quỹ Nghiên cứu Trọng điểm (Danish Council for Strategic Research) tài trợ cho các nghiên cứu thuộc các hướng công nghệ ưu tiên quốc gia,..[5] Với đầu tư còn khá khiêm tốn (khoảng 0,5% GDP), nếu tính theo năm 2014 thì là một con số không hề nhỏ lực lượng khoa học của Việt Nam hiện nay: khoảng 850 triệu USD. Nếu quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài chính với việc giảm bớt tiêu tốn cho bộ máy hành chính thì có thể thành lập từ 3-4 quỹ nghiên cứu tương tự như NAFOSTED với đầu tư ban đầu cho mỗi quỹ khoản gần 100 triệu USD,[6] với các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học cơ bản; nghiên cứu khoa học xã hội, kinh tế; nghiên cứu chiến lược trọng điểm và nghiên cứu đổi mới sáng tạo. Một mục tiêu xa và lớn hơn nữa là việc hợp tác với các quốc gia ASEAN trong việc cùng góp vốn đầu tư phát triển khoa học ASEAN một khi cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập trong năm 2015, tương tự như các quỹ nghiên cứu của cộng động Châu Âu (European Research Council, Framework 7,…) với nhiều nguồn kinh phí từ các quốc gia thành viên, nhiều cơ hội hơn cho các nhà nghiên cứu ở đẳng cấp khu vực. Tất nhiên đây có thể là một ý tưởng còn mới mẻ và nên được xem xét kỹ càng trong các điều kiện thực tiễn ở ASEAN.

Bên cạnh các quỹ nghiên cứu được thành lập trên cơ sở phân chia theo lĩnh vực, theo các hướng nghiên cứu, Bộ nên mạnh dạn thành lập các quỹ (chương trình) nghiên cứu hỗ trợ các nhà khoa học trẻ, những người bắt đầu khởi đầu sự nghiệp nghiên cứu như một nhà nghiên cứu độc lập. Chương trình này sẽ hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ để phát triển các hướng nghiên cứu riêng của mình sau khi tốt nghiệp tiến sĩ và đã giành một thời gian đáng kể tích lũy kinh nghiệm qua thời gian làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc research). Điều này từng được đề cập trong một bài viết trước đây của tác giả.[7] Chương trình này sẽ là chìa khóa thu hút các nhà nghiên cứu trẻ được đào tạo và tích lũy kinh nghiệm làm việc từ nước ngoài, đồng thời cũng là động lực cho các nhà nghiên cứu trẻ trong nước bởi nó cho phép các nhà nghiên cứu trẻ phát triển các nghiên cứu của riêng mình thông qua các nguồn tài trợ để thành lập nhóm nghiên cứu. Nó sẽ chấm dứt tình trạng “gọt chân cho vừa giày”, tình trạng các nhà nghiên cứu được đào tạo từ nước ngoài phải bỏ hướng nghiên cứu của riêng mình để “nắn bóp” cho phù hợp với điều kiện tại cơ sở nghiên cứu mà mình xin việc. Chương trình như thế này đã được phát triển ở nhiều quốc gia, hoặc thậm chí nhiều trường đại học lớn trên thế giới đã có những chương trình như vậy của riêng mình, nhưng chưa hề được xem xét tại Việt Nam. Một quỹ như vậy có thể học tập kinh nghiệm từ quỹ National Research Fellowship của Singapore. Với tinh thần cải cách, tái cơ cấu khoa học, hi vọng ý kiến này có thể được các nhà quản lý khoa học và công nghệ ở Việt Nam xem xét.

Cùng với việc tái cơ cấu các quỹ tài trợ, cơ chế bình duyệt và đánh giá đề tài nghiên cứu cũng nên được đổi mới theo các xu hướng trên thế giới: đánh giá thông qua cơ chế bình duyệt bởi chuyên gia trong ngành (peer review) với việc tận dụng các chuyên gia người Việt đang làm việc tại nước ngoài, những người ít bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ cá nhân trong nước, vừa nâng cao chất lượng các đề tài nghiên cứu cũng tính khách quan trong đánh giá nghiên cứu. Cơ chế đấu thầu đề tài mà Bộ đang duy trì cho các đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước đã lỗi thời nên được xem xét thay đổi bằng một cách thức minh bạch, nhằm đạt hiệu quả nghiên cứu cao nhất theo chuẩn mực quốc tế. Như GS Phùng Hồ Hải trong một bài viết gần đây trên Tia sáng từng phát biểu: “Một nội dung quan trọng trong việc tái cấu trúc khoa học theo tôi là tái cấu trúc về tư duy quản lý: “tài trợ cho khoa học chứ không phải khoán sản phẩm cho khoa học”. [8]

Một xu thế gần đây trên thế giới là tổ chức các đề tài nghiên cứu thành các “tập đoàn nghiên cứu” (research consortium), là sự hợp tác chặt chẽ của nhiều nhóm nghiên cứu (từ nhiều đơn vị, nhiều lĩnh vực) để kết hợp thành một consortium lớn. Mô hình này cho phép tập trung kinh phí nghiên cứu, tăng cường sự hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu nhằm phát huy hết sức mạnh chuyên môn của nhân sự các nhóm, cũng như tận dụng các nguồn lực về cơ sở vật chất. Các nhóm hợp tác với nhau qua các “consortium” này có thể dễ dàng trao đổi nhân sự, trao đổi thiết bị nghiên cứu với nhau nhằm cùng hoàn thành mục tiêu chung của đề tài lớn. Một consortium có thể cấu thành bởi nhiều đề tài từ các nhóm nghiên cứu khác nhau nhỏ có cùng đối tượng nhưng có nhiệm vụ hoặc cách tiếp cận khác nhau. Nó được thành lập với một nhóm điều hành từ các lãnh đạo của cá nhóm nghiên cứu cấu thành, và nhiệm vụ của từng nhóm được phân công dựa trên các đề xuất ban đầu. Mô hình này rất phổ biến ở các nước Châu Âu, Mỹ mà chính bản thân người viết từng là một phần trong tổ hợp nghiên cứu như vậy gần 10 năm về trước khi làm nghiên cứu sinh tại Vương quốc Anh (2006-2010),[9] và hiện nay cũng đang là một thành viên của một tổ hợp nghiên cứu như vậy tại Đan Mạch. Ở Việt Nam, một trong những yếu tốc quan trọng còn thiếu trong môi trường khoa học là sự hợp tác giữa các nhà khoa học, giữa các nhóm nghiên cứu ngay trong nước thì sự tổ chức các đề tài nghiên cứu lớn theo mô hình consortium sẽ là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao tính hợp tác trong văn hóa khoa học nước nhà.

[1] http://vtv.vn/cong-nghe/nam-2015-tap-trung-tai-co-cau-nganh-khoa-hoc-cong-nghe-20150226104640546.htm

[2] http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/1-000-ty-dong-doi-moi-khoa-hoc-cong-nghe-3131387.html

[3] Theo phê duyệt của Chính phủ (Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012), 5 hướng nghiên cứu ưu tiên cho chiến lược phát triển khoa học công nghệ quốc gia giai đoạn 2011-2020 bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ chế tạo máy – tự động hóa, và công nghệ môi trường

[4] Chi tiết trên website của UK Research Councils: http://www.rcuk.ac.uk/

[5] http://ufm.dk/en/research-and-innovation/councils-and-commissions/the-danish-council-for-strategic-research

[6] Số tiền ngân sách giành cho khoa học công nghệ năm 2014 thậm chí lên tới 25000 tỉ (1,2 tỉ USD) theo lời Bộ trường KHCN Nguyễn Quân (http://www.ngaynay.vn/Huong-di-nao-cho-khoa-hoc–cong-nghe-o-Viet-Nam-p269245.html) nhưng có một thực tế là kinh phí này chỉ còn 10% chi cho đầu tư nghiên cứu còn 90% chi cho bộ máy quản lý.

[7] Ngô Đức Thế, “Đầu tư cho nhóm nghiên cứu khởi phát”, Tia sáng 11/6/2013 (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=6434)

[8] Phùng Hồ Hải: “Về đánh giá và tài trợ cho nghiên cứu trong Khoa học cơ bản”, Tia sáng 2/3/2015 http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&News=8427&CategoryID=36

[9] Tác giả bài viết làm nghiên cứu sinh tại Đại học Glasgow, Vương quốc Anh (2006-2010) dưới sự tài trợ của quỹ EPSRC thông qua đề tài được tổ chức thành research consortium mang tên “Room temperature spintronics (Spin@RT)” bao gồm các nhóm nghiên cứu đến từ các trường hàng đầu ở Anh về từ học và spintronics: Cambridge, London, Glasgow, Leeds, Durham, và Rutherford Appleton Laboratory (RAL).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s