Lập viện V-KIST: Nên tránh mô hình cũ, xây dựng theo chuẩn mực quốc tế

Chưa bao giờ vấn đề đổi mới khoa học ở Việt Nam lại trở nên nóng bỏng như hiện nay. Sau gần 30 năm đổi mới, nền khoa học dường như đã đi lạc khỏi quỹ đạo khoa học thế giới, thậm chí bị coi là tụt hậu so với các nước láng giềng[1]. Một cố gắng mới của Bộ Khoa học và Công nghệ là “cầu viện” sự trợ giúp từ một cường quốc khoa học, Hàn Quốc, xây dựng một Viện Khoa học Công nghệ theo mô hình viện KIST (Korea Institute of Science and Technology), một viện nghiên cứu danh tiếng ở Hàn Quốc. Viện mới sẽ mang tên V-KIST, hứa hẹn sẽ là một đầu tàu nhằm vực dậy nền khoa học đang rệu rã[2]. Tin tức này ít nhiều như một làn gió tích cực thổi vào những người đang làm khoa học trong và ngoài nước, làm dấy lên hi vọng về một điểm hút những tài năng khoa học Việt Nam về cống hiến cho đất nước[3]. Tuy nhiên, cũng có không ít những băn khoăn về khả năng thành công của Viện V-KIST, cũng như những nguy cơ gặp phải một khi Viện nghiên cứu này ra mắt.

Trong một bài viết trên trang web cá nhân, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Sydney, Australia) đã cảnh báo về nguy cơ “khoa học thuộc địa kiểu mới”[4] khi xây dựng các viện nghiên cứu dựa trên viện trợ nước ngoài. Trên thực tế, khoa học Việt Nam từng nhận được sự trợ giúp lớn từ nhiều nước trên thế giới (mà điển hình là dự án VH13, Việt Nam – Hà Lan vào cuối nhưng năm 1980, đầu những năm 1990, cho các trường Đại học Tổng hợp Hà Nội – nay là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội)[5], nhưng đến khi những nguồn tài trợ đó không còn thì các trung tâm khoa học đó đã không giữ được sức sống như hồi còn sự bao cấp kinh phí. Vì thế, trước khi viện V-KIST được thành lập, những nhà lãnh đạo rất nên nhìn lại những thất bại trước đó của khoa học Việt Nam, đồng thời tham vấn những ý kiến phản biện từ những chuyên gia. Bài viết này như một phản biện nhỏ về mô hình tổ chức bộ máy khoa học của Việt Nam cần sửa đổi trong những tổ chức mới.

Campus Viện KIST

Tránh mô hình “hợp tác xã khoa học”

Trong một bài viết gần đây trên Tuổi trẻ Cuối tuần, TS. Giáp Văn Dương (Đại học Quốc gia Singapore) đã chỉ ra một thực tế tồn tại trong các cơ sở nghiên cứu khoa học ở Việt Nam (bao gồm các trường đại học và viện nghiên cứu), rằng tổ chức các cơ sở nghiên cứu khoa học ở Việt Nam thực chất giống như các hợp tác xã (hợp tác xã khoa học)[6]. Dù đây là nơi làm việc của nhiều cá nhân có trình độ cao, nhưng cách tổ chức của nó cũng không khác gì các hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ bao cấp, nên đã tạo ra một lối làm việc trì trệ, bảo thủ, không khuyến khích sáng tạo khoa học. Các cơ sở khoa học được nhận tài trợ lớn từ những dự án nước ngoài (mà điển hình như dự án VH13 nói trên) cũng không hề có sự tổ chức khác bao nhiêu so với các “hợp tác xã khoa học trước đó” nên sức sống khoa học không được bền bỉ sau khi nguồn tài trợ từ nước ngoài chấm dứt. Có thể tạm tóm tắt mô hình tổ chức nhân sự khoa học ở Việt Nam như sau:

Một Viện nghiên cứu được tổ chức thành các phòng ban (bao gồm các phòng hành chính và phòng chuyên môn theo chủ đề), mỗi phòng ban gồm các nhà khoa học biên chế, trong đó có các trưởng, phó phòng và các nghiên cứu viên. Điều này cũng tương tự ở các trường đại học, bao gồm các bộ môn, khoa với các giảng viên và nghiên cứu viên biên chế. Đầu học kỳ, các giảng viên nhận phân công giảng dạy theo lịch từ trưởng bộ môn. Những nội dung khác như giáo trình, chương trình giảng dạy, chỉ tiêu tuyển sinh, ngành nghề đào tạo… đã có “trên” lo. Với viện nghiên cứu, thực trạng cũng tương tự. Thời gian đầu, các bộ môn và phòng chuyên môn còn chấm công giảng viên và nhà khoa học giống như trong các hợp tác xã nông nghiệp. Sau này có bớt đi và gần như bỏ hẳn nhưng về bản chất, cách tổ chức làm việc, đánh giá hiệu quả và hưởng thụ thành quả trong các đại học và viện nghiên cứu vẫn không thay đổi so với các hợp tác xã nông nghiệp của thế kỷ trước. Tương tự như các hợp tác xã nông nghiệp, mô hình này tổ chức hoạt động nghiên cứu, giảng dạy theo kiểu “làm chung ăn chung” dưới sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới. Hệ quả dễ thấy nhất của cách tổ chức này là sự sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân bị giảm mạnh, năng suất khoa học thấp, các nhà khoa học và giáo sư không có phòng làm việc riêng… Tất cả đều sử dụng chung một văn phòng – trên thực tế là nơi hội họp và uống trà tán gẫu của cán bộ”[7].

Nếu viện V-KIST sắp sửa được thành lập lại lặp lại đúng mô hình này, thì dù được đầu tư lớn về kinh phí, thu hút nhiều nhân tài, cũng không dễ dàng đạt được thành công nhảy vọt để trở thành đầu tàu kéo một nền khoa học đang rệu rã, và sẽ tiềm ẩn một nguy cơ cao về việc sử dụng không hiệu quả kinh phí đầu tư lớn. Bên cạnh yếu tố con người và tài chính, không thể bỏ qua yếu tố thứ ba là cách tổ chức công việc nếu như muốn đạt một kết quả tốt. Có nghĩa là khoa học Việt Nam nói chung và viện V-KIST nói riêng cần phải tránh mô hình “hợp tác xã khoa học” và phải được tổ chức theo mô hình đang phổ biến trên thế giới (và cũng chính là ở Hàn Quốc, nơi đang trợ giúp ta xây dựng viện V-KIST).

Không thể bỏ qua chuẩn mực thế giới

Nếu Chính phủ Việt Nam kỳ vọng vào viện V-KIST là một đầu tàu vực dậy nền khoa học nước nhà thì không thể xây dựng viện V-KIST theo cách truyền thống vốn có dù với lượng đầu tư tài chính lớn. Bên cạnh việc cải cách tiền lương, đãi ngộ và thu hút nhân tài, cần tổ chức bộ máy viện theo mô hình khoa học cách nước đang phát triển, từ khâu tuyển dụng đến tổ chức bộ máy chuyên môn. Cần xóa bỏ cách tổ chức kiểu phòng ban, biên chế như các cơ quan khoa học cũ, thay vào đó, cần tổ chức theo trách nhiệm cá nhân, tức là thành các nhóm nghiên cứu được lãnh đạo bởi các cá nhân là các nhà khoa học có uy tín. Việc tuyển dụng cần được công khai, minh bạch, thông qua đánh giá hồ sơ khoa học bởi hội đồng phản biện là các nhà khoa học (tốt nhất là quốc tế), qua đánh giá kế hoạch nghiên cứu và phỏng vấn trực tiếp. Năng lực của nhà khoa học được đánh giá thông qua các nền tảng giáo dục, kinh nghiệm đã trải qua, những thành tựu khoa học đã đạt được cũng như các khả năng kết nối hợp tác trong và ngoài nước. Một hội đồng tư vấn khoa học (Scientific Advisors Board) là các chuyên gia trên thế giới nên được thành lập để tư vấn các hướng nghiên cứu cũng như hoạch định các chính sách, đồng thời hỗ trợ tuyển chọn các trưởng nhóm nghiên cứu . Các trưởng nhóm nghiên cứu này chính là các lãnh đạo khoa học. Một khi được bổ nhiệm, họ sẽ có quyền lựa chọn các nhân sự nghiên cứu dưới quyền, và sẽ được cấp một kinh phí theo qui định để tổ chức nhóm nghiên cứu (mua máy móc thiết bị, trả tiền thuê khoán nhân công…).

Bên cạnh đó, việc tổ chức nhân sự theo kiểu “biên chế nhà nước” truyền thống cần được loại bỏ hoàn toàn, thay vào đó là các nhân sự nghiên cứu như các nước phát triển. Đối với một viện nghiên cứu, các ngạch bậc nhân sự chính nên bao gồm các nghiên cứu viên cao cấp (Senior Research Scientist, hoặc Principal Research Scientist) – lãnh đạo các nhóm nghiên cứu, nghiên cứu viên cơ hữu (Research Scientist) cho những nhà nghiên cứu đang ở độ chín về kinh nghiệm khoa học và có thể làm nghiên cứu độc lập, nghiên cứu viên hậu tiến sĩ (Postdoctoral Fellow)[8] cho những nhà nghiên cứu mới có trình độ tiến sĩ trong giai đoạn thực tập tích lũy kinh nghiệm trước khi trở thành một nhà nghiên cứu độc lập. Đối với những nhà nghiên cứu chưa có trình độ tiến sĩ, có thể tạo ra các bậc như trợ lý nghiên cứu (Research Associate, Research Assistant), hoặc nghiên cứu sinh (đối với những người học sau đại học)… Chỉ những nhà nghiên cứu đủ năng lực và trình độ (từ research scientist trở lên) mới được cấp biên chế vĩnh viễn (tenure), trong khi các bậc từ postdoc trở xuống đều phải trải qua giai đoạn thực tập viên với hợp đồng có thời hạn (có thể từ 3-5 năm).

Ở Việt Nam từ trước đến nay, chức vụ nghiên cứu viên hậu tiến sĩ (postdoctoral fellow) chưa bao giờ tồn tại trong hệ thống thang bậc khoa học, nhưng trên thực tế, đây lại là lực lượng nhân công có đóng góp lớn cho các nhóm nghiên cứu trên thế giới[9] và ít nhóm nghiên cứu nào trên thế giới có thể vận hành tốt mà thiếu các postdoc. Các nghiên cứu viên hậu tiến sĩ cũng là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho việc đào tạo các nghiên cứu sinh, cũng như sinh viên đại học. Những nhà khoa học khi mới đạt trình độ tiến sĩ rất cần một thời gian thực tập trên vị trí này để tích lũy kinh nghiệm làm nghiên cứu độc lập, quản lý và tổ chức công việc trước khi trở thành những nhà nghiên cứu độc lập. Giai đoạn này không thể thiếu trước khi bổ nhiệm một vị trí cơ hữu trong các cơ quan khoa học. Thực chất nó cũng là một sự tự đào tạo nhân sự cao cấp (không manh tính bằng cấp) trước khi trở thành các lãnh đạo khoa học. Một viện mới chào đón nhân tài bằng nhiều chính sách đãi ngộ, nhưng cũng cần lựa chọn một cách cẩn thận những người có đủ năng lực và kinh nghiệm làm lãnh đạo, đồng thời đào tạo những người trẻ còn có tài nhưng chưa đủ kinh nghiệm cho các vị trí trong tương lai.

Thông thường, lương của các postdoc thường được trả từ các đề tài nghiên cứu hoặc các quỹ học bổng (fellowship). Viện V-KIST mới thành lập với nguồn kinh phí dồi dào nên mạnh dạn lập quỹ học bổng cho các nghiên cứu sinh (Doctoral Fellowship) và các nghiên cứu viên hậu tiến sĩ (Postdoctoral Fellowship) với kinh phí cấp cho các cá nhân bao gồm lương (đủ sống để yên tâm làm việc) và chi phí nghiên cứu cho phòng thí nghiệm. Các cá nhân được cấp các fellowship này dựa trên hồ sơ khoa học, kế hoạch nghiên cứu và phỏng vấn trực tiếp bởi hội đồng khoa học sau khi có sự đánh giá phản biện hồ sơ bởi các chuyên gia trong ngành. Một nhóm nghiên cứu trong viện sẽ tuyển các vị trí postdoc dựa trên nhu cầu nhân lực nghiên cứu của nhóm, chứ không theo sự phân phát biên chế như truyền thống.

Song song với việc chuẩn mực hóa các thang bậc nhân sự khoa học, viện mới thành lập cần tách biệt hoàn toàn hệ thống quản lý hành chính và hệ thống nhân sự nghiên cứu khoa học. Các nhà khoa học cần được trả thù lao xứng đáng để tập trung làm một công việc duy nhất là nghiên cứu khoa học (tất nhiên trong việc nghiên cứu khoa học bao gồm cả quản lý đề tài, thu hút các nguồn đầu tư…) và giảm thiểu việc bị ảnh hưởng bới các chức vụ hành chính. Có một thực tế đáng lo ngại là ở Việt Nam, các chức vụ hành chính có “thực quyền” hơn những người làm chuyên môn nên nhiều nhà khoa học, giáo sư, giảng viên đại học thường “phấn đấu” một thời gian để có thể ngồi vào các chức vụ trưởng, phó phòng hành chính. Do đó, cần xây dựng hệ thống hành chính là các phòng trợ giúp cho công việc chuyên môn chứ không thể là một hệ thống quyền lực chi phối chuyên môn.

Nếu chúng ta thật sự muốn xây dựng một viện khoa học mới nhằm vực dậy nền khoa học, thì không thể vội vàng, mà nên từng bước vững chắc theo chuẩn mực quốc tế với những đổi mới mạnh mẽ, dứt khoát. Những thành công bước đầu sẽ là tiền đề để đổi mới toàn diện nền khoa học Việt Nam, không những ở trong các viện nghiên cứu, mà còn trong các trường đại học trên cả nước.


[1] Khoa học VN kẹt trong phi chuẩn mực, tư duy ăn xổi, Phunutuday.vn, số ra ngày 20/11/2012.

[2] Sự tự do và cái tâm là quan trọng nhất, Tia sáng, số ra ngày 10/10/2012.

[3] Viện nghiên cứu công nghệ – lực đẩy Hàn Quốc cất cánh, Vnexpress.net 29/11/2012.

[4] Nguyễn Văn Tuấn, Coi chừng khoa học thuộc địa kiểu mới, http://www.nguyenvantuan.net/science/4-science/1608-coi-chung-khoa-hoc-thuoc-dia-kieu-moi-

[5] Hai sản phẩm điển hình còn lại của dự án VH13 là Phòng thí nghiệm Vật lý Nhiệt độ thấp (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Viện Đào tạo Quốc tế về Khoa học Vật liệu (ITIMS, Đại học Bách khoa Hà Nội).

[7] Giáp Văn Dương, “Hợp tác xã khoa học”, đã dẫn bên trên.

[8] Tham khảo thêm về postdoc trên Wikipedia.org, ở các nước phát triển, thời gian làm postdoc có thể kéo dài tới 5 năm, nhằm hoàn thiện các kỹ năng nghiên cứu đã được hình thành trong thời gian học tiến sĩ, rèn luyện các kinh nghiêm nghiên cứu và quản lý. Ở Anh, khoảng 25% những người có bằng tiến sĩ tiếp tục làm postdoc, còn ở Mỹ có hẳn một hiệp hội postdoc quốc gia.

[9] Xem một ví dụ điển hình về nhóm nghiên cứu Màng mỏng từ (Thin film magnetism) thuộc Cavendish Laboratory, Đại học Cambridge, Anh quốc: http://www.tfm.phy.cam.ac.uk/directory#staff. Đây là một trong những nhóm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới về vật liệu từ và spintronics, lãnh đạo bởi Crispin Barnes và Russell Cowburn, trong nhóm bao gồm các faculty cơ hữu, và lực lượng “nhân công khoa học” chính là các postdoc và nghiên cứu sinh.

====================================

Bài viết được đăng trên Tia sáng sau khi đã bị kiểm duyệt cắt bỏ một nửa nội dung quan trọng

 

 

1 Comment

  1. Thank you for every other great post. The place else may anyone get that kind of information in such an ideal approach of writing? I have a presentation subsequent week, and I am on the look for such information.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s