Nên tới đâu để học khoa học?

Chắc chắn rất nhiều bạn sinh viên đang theo học các ngành khoa học trong nước đang ấp ủ ước mơ được ra nước ngoài du học nhằm theo đuổi các bậc học cao hơn ở các nước có nền khoa học tiên tiến, đi theo sự nghiệp khoa học. Bên cạnh việc học chuyên môn, ngoại ngữ, việc định hướng đến một nơi nào đó học tập để phát triển được chuyên môn của mình cũng là vô cùng quan trọng. Bài viết này thực chất không hướng dẫn các bạn sinh viên lựa chọn điều đó, nhưng nó là một thống kê thú vị về các nền khoa học để các bạn có một cái nhìn tổng thể, qua đó có thể chọn ra một nền khoa học đích thực để theo đuổi sự nghiệp khoa học của mình. Chú ý: nếu các bạn trẻ theo đuổi con đường vật lý, có thể tham khảo thêm bài viết của tôi về các nền vật lý mạnh trên thế giới.

Chất lượng nghiên cứu khoa học ở các quốc gia

Mới đây, Thomson Reuters đã làm một thống kê về các công trình khoa học của một số quốc gia trong thời gian từ tháng 1/2001 đến 8/2011. Đây là thống kê đánh giá tổng số các công bố khoa học (Papers) của các quốc gia trên các tạp chí chuyên ngành có bình duyệt, được xếp hạng ISI và đánh giá tổng số lần trích dẫn của các quốc gia trong chu kỳ đó (Citations). Từ đó, Thomson Reuters đưa ra một thông số cuối cùng đánh giá chất lượng khoa học của mỗi quốc gia, đó là số lần trích dẫn trung bình tính trên đầu một bài báo (Citations per paper).

Con số công bố khoa học (papers) nói lên khả năng sản xuất các công trình khoa học của mỗi quốc gia, nhưng nó hoàn toàn không nói lên được chất lượng các công trình đó ra sao. Hơn nữa, nó phụ thuộc cả vào số lượng các nhà nghiên cứu trong quốc gia đó (ví dụ như Trung Quốc có lực lượng nhân công làm nghiên cứu đông nhất thế giới nên họ có tổng số bài báo chiếm số lượng lớn trên thế giới – đứng thứ 3, nhưng thực ra vẫn xếp dưới Mỹ và Vương quốc Anh, là những nơi có số lượng nhà nghiên cứu thấp hơn Trung Quốc rất nhiều). Nếu các công trình được sản xuất ra có chất lượng, nó sẽ được trích dẫn bởi các công trình khác. Như vậy con số tổng số lần trích dẫn nói lên chất lượng của các công trình khoa học. Nhưng nó cũng chưa hoàn toàn công bằng khi so sánh chất lượng, bởi nó không nói được đã tiêu tốn bao nhiêu bài báo để có được tổng số trích dẫn đó. Và cuối cùng, tham số citation per paper có lẽ là tương đối công bằng để so sánh chất lượng các quốc gia với nhau. Bảng 1 dưới đây là một thống kê nguyên bản từ Thomson Reuters các thông số nêu trên của 20 quốc gia đứng đầu với thứ tự được đánh theo tổng số công trình xuất bản từ năm 2001 đến 2011.

Bảng 1. Thống kê của Thomson Reuters 20 quốc gia dẫn đầu thế giới về tổng số công trình khoa học xuất bản trong 10 năm (2001-2010)

Rank

Country

Papers

Citations

Cites per paper

1

USA

3,049,662

48,862,100

16.02

2

PEOPLES R CHINA

836,255

5,191,358

6.21

3

GERMANY

784,316

10,518,133

13.41

4

JAPAN

771,548

8,084,145

10.48

5

ENGLAND 

697,763

10,508,202

15.06

6

FRANCE

557,322

7,007,693

12.57

7

CANADA

451,588

6,019,195

13.33

8

ITALY

429,301

5,151,675

12

9

SPAIN

339,164

3,588,655

10.58

10

AUSTRALIA

304,160

3,681,695

12.1

11

INDIA

293,049

1,727,973

5.9

12

SOUTH KOREA

282,328

2,024,609

7.17

13

RUSSIA

265,721

1,282,281

4.83

14

NETHERLANDS

252,242

3,974,719

15.76

15

BRAZIL

212,243

1,360,097

6.41

16

SWITZERLAND

181,636

3,070,458

16.9

17

SWEDEN

179,126

2,686,304

15

18

TAIWAN

177,929

1,273,682

7.16

19

TURKEY

155,276

819,071

5.27

20

POLAND

154,016

1,036,062

6.73

Theo bảng thống kê này, Mỹ là nước dẫn đầu thế giới với tổng số 3,049,662 bài báo công bố trong 10 năm, tiếp đến là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) với số lượng bài báo chưa đến 1/3 so với Mỹ. Có một điều hết sức đáng lưu ý là bảng tổng kết này tách riêng 4 quốc gia nhỏ trong Vương quốc Anh – United Kingdom (bao gồm England, Scotland, Wales và Northern Ireland) thành những quốc gia riêng rẽ. Vì thế mà England tụt xuống thứ 3 sau Trung Quốc. Nhưng tính tổng thể toàn Vương quốc Anh, quốc gia này vượt trên Trung Quốc và xếp liền sau Hoa Kỳ. Tôi đã tổng hợp lại và xếp theo bảng thứ 2 dưới đây:

Bảng 2. Thống kê đầy đủ so sánh tổng công trình xuất bản các quốc gia với việc tổng cộng các vùng lãnh thổ trong Vương quốc Anh (United Kingdom).

Rank

Country

Papers

Citations

Cites per paper

1

USA

3,049,662

48,862,100

16.02

2

UNITED KINGDOM

851,872

13,696,255

16.08

3

PEOPLES R CHINA

836,255

5,191,358

6.21

4

GERMANY

784,316

10,518,133

13.41

5

JAPAN

771,548

8,084,145

10.48

6

FRANCE

557,322

7,007,693

12.57

7

CANADA

451,588

6,019,195

13.33

8

ITALY

429,301

5,151,675

12

9

SPAIN

339,164

3,588,655

10.58

10

AUSTRALIA

304,160

3,681,695

12.1

11

INDIA

293,049

1,727,973

5.9

12

SOUTH KOREA

282,328

2,024,609

7.17

13

RUSSIA

265,721

1,282,281

4.83

14

NETHERLANDS

252,242

3,974,719

15.76

15

BRAZIL

212,243

1,360,097

6.41

16

SWITZERLAND

181,636

3,070,458

16.9

17

SWEDEN

179,126

2,686,304

15

18

TAIWAN

177,929

1,273,682

7.16

19

TURKEY

155,276

819,071

5.27

20

POLAND

154,016

1,036,062

6

Nếu chỉ ngó ở cột thứ nhất (Papers), rõ ràng Trung Quốc vượt trên cả những nền khoa học mạnh nhất như Nhật Bản, Đức, Pháp, Canada…, và đang tiến sát Vương quốc Anh, nhưng nếu ngó sang cột thứ hai, bạn sẽ thấy thật sự “ông kễnh” Trung Quốc ra sao. Người anh cộng sản của Việt Nam tụt hoàn toàn so với những ông lớn nói trên về tổng số lượng trích dẫn, và khi đánh giá chính xác hơn nữa theo chỉ số “Citation per paper”, ta sẽ thấy Trung Quốc chưa thể đạt đến tầm một quốc gia có nền khoa học phát triển. Bảng 3 sắp xếp các quốc gia tính theo chỉ số trích dẫn trung bình cho một bài báo. Lúc này, thậm chí quốc gia bé nhỏ chỉ với hơn 5 triệu dân như Scotland lại vượt lên vị trí rất cao, hoặc một người anh em gốc Hoa khác của Trung Quốc là Đài Loan lại thể hiện chất lượng cao hơn hẳn so với Trung Quốc.

Bảng 3. Xếp hạng chất lượng khoa học các quốc gia dựa trên chỉ số trích dẫn trung bình. Vùng 5 quốc gia dưới cùng (bôi đen) thực chất không trong top các quốc gia mạnh nhất, nhưng được đưa vào để so sánh

Rank

Country

Papers

Citations

Cites per paper

1

SWITZERLAND

181,636

3,070,458

16.9

2

UNITED KINGDOM

851,872

13,696,255

16.08

3

DENMARK

98,083

1,574,167

16.05

4

USA

3,049,662

48,862,100

16.02

5

NETHERLANDS

252,242

3,974,719

15.76

6

SWEDEN

179,126

2,686,304

15

7

BELGIUM

137,878

1,918,993

13.92

8

FINLAND

88,874

1,224,037

13.77

9

GERMANY

784,316

10,518,133

13.41

10

CANADA

451,588

6,019,195

13.33

11

AUSTRIA

95,690

1,253,930

13.1

12

ISRAEL

110,558

1,426,421

12.9

13

NORWAY

72,277

922,183

12.76

14

FRANCE

557,322

7,007,693

12.57

15

AUSTRALIA

304,160

3,681,695

12.1

16

ITALY

429,301

5,151,675

12

17

IRELAND

45,774

534,270

11.67

18

JAPAN

771,548

8,084,145

10.48

SOUTH KOREA

282,328

2,024,609

7.17

TAIWAN

177,929

1,273,682

7.16

  PEOPLES R CHINA

836,255

5,191,358

6.21

  POLAND

154,016

1,036,062

6

  RUSSIA

265,721

1,282,281

4.83

Nhìn vào bảng này, ta có thể thấy rằng quốc gia nhỏ bé Thụy Sĩ vượt trên tất cả các nước lớn để đạt chất lượng trích dẫn cao nhất, sau đó là Vương quốc Anh, và một quốc gia rất ít dân khác là Đan Mạch, ông lớn Hoa Kỳ… Có thể nói rằng top 10 quốc gia dẫn đầu đều nằm trong các quốc gia Châu Âu và Bắc Mỹ, xa hơn trong top 20, có thêm Australia, Ireland (Cộng hòa Ireland) và Nhật Bản. Điều bất ngờ lớn là chất lượng trích dẫn của Nhật Bản lại thấp nhất trong số các cường quốc khoa học (dù tổng số lượng công trình của Nhật Bản đứng thứ 5 toàn thế giới.

Ở vùng cuối cùng của bảng thứ 3, tôi đặt thêm 4 quốc gia vào để bạn đọc có thêm sự so sánh. Thực chất 4 quốc gia này không phải có chất lượng trích dẫn liền tiếp sau bảng 18 quốc gia tốt nhất mà họ được đưa vào chỉ với mục đích so sánh. Có thể thấy rằng ở Châu Á, Hàn Quốc vẫn là quốc gia có nền khoa học tốt đứng sau Nhật Bản và vượt trên Trung Quốc, Đài Loàn. Đài Loan cũng có chất lượng vượt trên người anh Trung Quốc. Khoa học Trung Quốc đang phát triển về số lượng, nhưng chất lượng của họ lại ở mức quá thấp so với các quốc gia phát triển, và sẽ phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền của để họ có thể bắt kịp. Tôi lại so sánh thêm ở đây hai quốc gia Đông Âu rất quen thuộc với Việt Nam là Ba Lan và Nga, vốn được xem là những cường quốc khoa học trong quá khứ. Nhưng giờ đây, chất lượng khoa học của họ đã tụt xa so với các nước phát triển khác và rất khó có thể tìm lại ánh hào quang xưa.

Lời kết

Tất nhiên là bảng xếp hạng này không đánh giá một cách đầy đủ và chính xác nhất về các nền khoa học lớn bởi vì công trình khoa học không nói lên tất cả của một nền khoa học. Lời khuyên của tôi giành cho các bạn trẻ đang có ý định du học trong các ngành khoa học: hãy cố gắng tìm đến các quốc gia có nền khoa học tiên tiến nhất và chất lượng nghiên cứu tốt nhất. Bài viết này có thể cho các bạn một cái nhìn tổng thể về chất lượng nghiên cứu khoa học ở các quốc gia lớn trên thế giới. Nếu có cơ hội chọn, hãy nên chọn các quốc gia thuộc top 18 trong bảng xếp hạng cuối cùng mà tôi thống kê (bảng 3). Đây là những nơi có nền khoa học tốt nhất và cũng là những nơi có chất lượng nghiên cứu, trình độ học thuật cao nhất, có thể trang bị cho các bạn hành trang tốt cho con đường nghiên cứu khoa học cho tương lai. Không chỉ là chất lượng nghiên cứu khoa học, các quốc gia này còn là nơi mà bạn có thể học được cách thức tư duy, phương pháp khoa học tốt nhất. Tất nhiên, lựa chọn quốc gia nào, trường nào còn phụ thuộc vào từng ngành học cụ thể chứ không thể chung chung như trên.

1 Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s