Đào tạo tiến sĩ trong nước: Có cần một quỹ học bổng quốc gia?

Trong những ngày cuối năm, chuyện tiến sĩ 322, chuyện mục tiêu đào tạo 29000 tiến sĩ cho đến năm 2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại làm nóng các diễn đàn trong nước. Nếu xét trên tiềm năng tiến sĩ, Bộ Giáo dục hoàn toàn có quyền “lạc quan” về mục tiêu đạt được số lượng tiến sĩ bởi ngoài những nghiên cứu sinh đang học trong nước, có hàng chục ngàn các nghiên cứu sinh đang học tập và nghiên cứu tại các trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới, và hàng vạn các tiến sĩ Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài. Nhưng một vấn đề khác cũng đang tạo ra nhiều bức bối trong mục tiêu chuẩn hóa giảng viên Việt Nam là việc đào tạo tiến sĩ tại các cơ sở trong nước, một nguồn chính cung cấp các giảng viên trình độ tiến sĩ cho các trường đại học trong nước. Việc đào tào tiến sĩ tại nhiều cơ sở trong nước đang bị cho là tồn tại nhiều bất cập và đang dần dần “mất khách” khiến lòng tin vào việc đào tạo tiến sĩ trong nước đang ngày càng giảm sút. Có một điều rất khác biệt trong việc đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam là người học bỏ ra tiền để cố gắng lấy một mảnh bằng tiến sĩ (và do đó khiến họ cũng chẳng có một sự ràng buộc gì với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo), trong khi ở các nước phát triển, hiếm có ai đi làm nghiên cứu sinh bằng nguồn tài chính tự lực mà họ đều được tài trợ bởi các quỹ nghiên cứu, các đề tài.Nhưng hình như chưa bao giờ Bộ Giáo dục nghĩ đến một quỹ học bổng tài trợ cho các nghiên cứu sinh làm việc ngay trong nước?

Có thể tạm phân các nghiên cứu sinh (NCS) trong nước thành 2 nhóm: một nhóm là các giảng viên hoặc cán bộ nhà nước đi học theo quyết định cử đi học của các cơ quan; nhóm thứ hai là những người chưa trong biên chế, đi học liên tục từ sau khi tốt nghiệp đại học, lên bậc thạc sĩ và nghiên cứu sinh. Nhóm thứ nhất thường có một phần tài chính hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và chỉ phải đóng góp một phần kinh phí đào tạo, trong khi nhóm thứ hai phải chịu gánh nặng lớn về đóng góp tài chính. Nhưng cả hai nhóm đều than thở về chuyện làm nghiên cứu sinh bởi gánh nặng tài chính cũng như sức ép của cơm áo gạo tiền. Hiện nay, cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu có trả thù lao cho các nghiên cứu sinh, những người tham gia đề tài như một nhà nghiên cứu nhưng có lẽ những hỗ trợ từ đề tài có lẽ chưa đủ để giảm gánh nặng cho nghiên cứu sinh. Bên cạnh đó, những nghiên cứu sinh thuộc diện là cán bộ của các cơ quan còn bị phân tán bởi các công việc chuyên môn từ cơ quan cũ (nơi đã cử đi học). Những thực tế này khiến cho hầu hết các nghiên cứu sinh đều khó có thể tập chung cho công việc nghiên cứu trong khóa học nghiên cứu sinh và dẫn đến một hậu quả tất yếu là chất lượng của nghiên cứu sinh khó có thể cao.Những tranh cãi gần đây trong việc các tiến sĩ theo diện học bổng 322 quay về rồi lại ra đi khỏi cơ quan cũ cho thấy rằng rất cần một sự thay đổi lớn về cung cách quản lý và cấp phát tài chính từ các cơ quan có thẩm quyền (mà cụ thể mà Bộ Giáo dục) để nâng cao hiệu quả sử dụng chất xám của đất nước. Bài viết này xin đưa ra một giải pháp cụ thể cho vấn đề này, đó là tài chính, hay rõ ràng hơn là “học bổng nghiên cứu sinh”.

Một số cơ quan trực tiếp quản lý về vấn đề khoa học và giáo dục (cụ thể là Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục) nên tạo ra một số quỹ học bổng quốc gia cấp cho bậc học nghiên cứu sinh tiến sĩ. Học bổng này cấp cho các nghiên cứu sinh làm luận án nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo trong nước (khác với học bổng 322 chỉ cấp cho nghiên cứu sinh học ở nước ngoài). Học bổng này sẽ được cấp liên tục khi nghiên cứu sinh bắt đầu khóa học cho đến khi kết thúc (có thể cố định 3,5 năm hoặc 4 năm). Tiêu chí cấp học bổng dựa vào năng lực và hồ sơ đầu vào của nghiên cứu sinh, tất cả các ứng viên (là cán bộ nhà nước hoặc tự do) đều được xem xét bình đẳng như nhau. Có thể tạm xét tiêu chuẩn là những người đã có bằng thạc sĩ thuộc nhóm ngành phù hợp (hoặc chuẩn bị bảo vệ vào thời điểm xét hồ sơ), có chứng chỉ ngoại ngữ (nên yêu cầu các chứng chỉ quốc tế ví dụ như TOEIC, TOEFL hay IELTS dù có thể thấp hơn một chút so với các trường trên thế giới, hoặc có thể bỏ qua yêu cầu này đối với các ứng viên đã học các bậc đại học và thạc sĩ tại các nước phát triển), có lý lịch khoa học (curriculum vitae – CV) được trình bày ấn tượng, cùng với các hồ sơ (như bảng điểm và văn bằng tốt nghiệp) và kế hoạch nghiên cứu (research proposal) hợp lý cùng với thư giới thiệu (letter of recommendation) từ 2-3 nhà khoa học có uy tín trong ngành có hiểu rõ ứng viên (ví dụ như một thư giới thiệu từ người hướng dẫn sẽ làm việc trong khóa học sắp tới). Hồ sơ của ứng viên sẽ được đánh giá bằng các phản biện từ các nhà khoa học đang làm việc trong chuyên ngành đó (hoặc chính hướng nghiên cứu mà ứng viên đăng ký). Có nghĩa là cơ quan quản lý quỹ học bổng sẽ phải tìm ra các nhà khoa học hiểu rõ về hướng nghiên cứu để đánh giá khách quan hồ sơ. Các đánh giá phản biện cũng sẽ được lưu cùng các hồ sơ của cơ quan quản lý quỹ. Giảng viên hướng dẫn chính mà nghiên cứu sinh đăng ký đề tài cũng có thể có quyền cùng tham gia đánh giá hồ sơ ứng viên. Khi được cấp học bổng, nghiên cứu sinh sẽ được chấp nhận nhập học vào cơ sở mình đăng ký và bắt đầu khóa học với học bổng hỗ trợ toàn phần từ học bổng (bao gồm lương sẽ được chuyển thẳng vào tài khoản ngân hàng, học phí, kinh phí nghiên cứu cấp cho phòng thí nghiệm tham gia được chuyển đến cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh). Và nghiên cứu sinh sẽ phải toàn tâm toàn ý tham gia khóa học, dừng lại toàn bộ các công việc khác để giành thời gian chính cho việc nghiên cứu giống như một hợp đồng với quỹ học bổng. Hợp đồng kết thúc khi khóa học kết thúc và nghiên cứu sinh có thể trở lại cơ quan cũ để làm việc. Chúng ta nên mạnh dạn loại bỏ hình thức đào tạo bán thời gian để nâng cao chất lượng nghiên cứu sinh. Một điều cần thiết để có thể khiến cho các nghiên cứu sinh toàn tâm toàn ý làm việc là lương (thù lao) từ học bổng sẽ phải ở một mức cao hơn so với mặt bằng công chức hiện nay.

Một quỹ học bổng rất cần thiết, ứng viên sẽ được cấp học bổng toàn phần dựa trên việc xem xét hồ sơ và phỏng vấn face-to-face (ảnh minh họa giaoduc.net.vn).

Có thể ví dụ một con số ước tính đơn giản: một nghiên cứu sinh sẽ được cấp học bổng với thù lao 5 triệu đồng một tháng, hay 60 triệu đồng một năm, cộng với chi phí bảo hiểm y tế là 4 triệu một năm, cộng với học phí 600.000 ngàn/tháng (6 triệu/năm), và chi phí cho phòng thí nghiệm là 10 triệu đồng một năm, chi trả phụ cấp cho giáo viên hướng dẫn chính là 1 triệu đồng một tháng (tức là 12 triệu đồng một năm). Có nghĩa là tổng kinh phí cấp cho nghiên cứu sinh sẽ là 92 triệu đồng/năm và tổng kinh phí cấp trong 3,5 năm (hay 42 tháng) sẽ là 322 triệu đồng (tức là chưa đến 15000 USD, một con số chỉ chưa bằng một năm học phí cho một nghiên cứu sinh ở các nước Anh, Mỹ). Nếu một năm quỹ cấp cho 50 nghiên cứu sinh, thì sẽ tiêu tốn khoảng hơn 16 tỉ đồng, có lẽ không quá lớn so với việc sử dụng ngân sách giáo dục dàn trải như hiện nay. Tất nhiên đây chỉ là những con số ước tính. Thậm chí nhà nước hoàn toàn có thể huy động cho quỹ học bổng này từ nhiều doanh nghiệp bên ngoài để tạo ra một quỹ học bổng nhiều chục tỉ đồng mỗi năm. Hiện nay chính các tập đoàn nhà nước có thể tài trợ hàng tỉ đồng cho các cuộc thi sắc đẹp, hay các giải thi đấu thể thao thì việc nhiều doanh nghiệp đóng góp một phần số tiền đó có thể tạo nên một quỹ học bổng khổng lồ cấp cho hàng trăm nghiên cứu sinh mỗi năm.

Và nếu muốn nâng cao chất lượng, học bổng có thể chỉ cấp cho các nghiên cứu sinh đăng ký tại các cơ sở nghiên cứu đạt tiêu chuẩn cho nghiên cứu khoa học (quỹ sẽ có một danh sách các cơ sở đào tạo đủ tiêu chuẩn chất lượng) và chỉ có các giảng viên có làm nghiên cứu khoa học thực sự (có công bố quốc tế) mới được phép nhận nghiên cứu sinh được cấp học bổng này. Danh sách các cơ sở đủ chất lượng có thể được cập nhật từng năm tùy theo sự phát triển của các cơ sở nhằm tạo ra động lực phát triển của các đơn vị có đào tạo tiến sĩ. Ngoài việc siết chặt quản lý các cơ sở đào tạo kém chất lượng, cũng nên giảm số lượng các nghiên cứu sinh theo hình thức tự do (không có tài trợ tài chính), những người thường bị cuốn theo các vòng xoáy công việc và cơm áo gạo tiền, không thể toàn tâm toàn ý cho việc học tập và nghiên cứu.

Mỗi năm các doanh nghiệp tài trợ nhiều tỉ đồng cho các cuộc thi sắc đẹp, tại sao không góp sức cho một quỹ học bổng trí tuệ? (Ảnh minh họa kenh14.vn)

Một hình thức khác của hỗ trợ tài chính là từ các đề tài nghiên cứu. Một đề tài nghiên cứu nếu có đăng ký đào tạo tiến sĩ cần tài trợ toàn bộ hoặc một phần lớn kinh phí cho nghiên cứu sinh (từ lương – ở mức tối thiểu quy định cho bậc nghiên cứu sinh), học phí và kinh phí nghiên cứu. Có nghĩa là các quỹ cấp kinh phí nghiên cứu cho đề tài sẽ phải tính đến khoản chi phí này của đề tài. Tất nhiên, rất khó nói được mức cụ thể là bao nhiêu tiền thù lao sẽ là đủ để cho nghiên cứu sinh toàn tâm toàn ý yên tâm làm nghiên cứu, nhưng các nhà quản lý hoàn toàn có thể tạo ra một mức tối thiểu. Bên cạnh đó cần phải minh bạch hóa việc tuyển dụng và xem xét các hồ sơ, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ứng viên và chính các cơ sở nghiên cứu. Trong trường hợp tài trợ kinh phí bởi các đề tài, thì các chủ đề tài có quyền chính quyết định việc có tuyển dụng nghiên cứu sinh hay không.Điều này có nghĩa là nghiên cứu khoa học sẽ dược gắn chặt với đào tạo sau đại học, và đảm bảo rằng tất cả các nghiên cứu sinh cần gắn với một đề tài nghiên cứu cụ thể và không cho phép một giảng viên nào hướng dẫn nghiên cứu sinh mà không thực hiện một đề tài nghiên cứu.

Hiện nay chính phủ ta đang rất mạnh dạn đầu tư một lượng kinh phí lớn cho giáo dục và khoa học, và thậm chí còn có thông tin rằng số tiền đầu tư cho khoa học còn không được sử dụng hết phải trả lại cho ngân sách nhà nước. Vậy tại sao các cơ quan nhà nước không mạnh dạn cải cách việc sử dụng kinh phí cho nghiên cứu cho việc nâng cao chất lượng nghiên cứu sinh mà giải pháp về quỹ học bổng được trình bày trên đây là một ví dụ. Việc làm này thực chất không phải là mới, mà ngay chính chúng ta cũng đang trả một lượng lớn kinh phí cho các nghiên cứu sinh đi học tập tại các cơ sở đào tạo nước ngoài. Việc tạo ra các quỹ học bổng trong nước sẽ thúc đẩy việc đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở trong nước. Tất nhiên, đây chỉ là một giải pháp cụ thể cho vấn đề tài chính cho nghiên cứu sinh chứ không phải là một cứu cánh để thay đổi thực trạng giáo dục đại học hiện nay. Bên cạnh đó, nếu chúng ta không định hướng đào tạo các tiến sĩ cho nghiên cứu và giảng dạy, mà chỉ chạy theo mục tiêu bằng cấp và hợp thức hóa bằng cấp để bổ nhiệm các chức vụ quản lý thì mọi sự thay đổi đều không có ý nghĩa.

Bài viết đã được gửi lên Diễn đàn Giáo dục của VietnamNet.

6 Comments

  1. Bạn tôi được chuyển tiếp nghiên cứu sinh ngành môi trường, nhưng như con số bạn phân tích trên 92 triệu một năm, tức 7.2 triệu cho một tháng. chắc chỉ có nước lùi thôi. Không có doanh nghiệp nào làm hợp đồng Đào tạo và việc làm nhỉ! ( nghĩa là công ty sẽ cấp kinh phí đi học và sau này mình sẽ làm việc cho công ty)

    1. Không có công ty nào hợp đồng đào tạo hoặc việc làm là bình thường thôi, vì lao động trình độ Tiến sĩ thì tới 99% các công ty là không cần đến, chẳng ai ngu gì đi vứt tiền vào đó cả. Phần lớn các lao động trình độ tiến sĩ nên được hướng theo môi trường nghiên cứu. Mà tôi đề xuất ở đây là một quỹ học bổng của Chính phủ, còn tiền thì do Chính phủ kêu gọi từ các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm đóng góp. Các đại gia có thể vứt một đống tiền qua cửa sổ cho các em chân dài khoe đùi khoe mông, nhưng đóng góp vào một ít cũng tiếc.

  2. It’s really a cool and useful piece of information. I am satisfied that you simply shared this useful information with us. Please stay us up to date like this. Thanks for sharing.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s