Nghiên cứu khoa học ở Việt Nam đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hơn ba tháng kể từ ngày tôi bắt đầu công việc ở NUS, tôi vẫn chưa kết thúc các khóa đào tạo (training courses) về “an toàn lao động”, trong đó có các khóa học về an toàn lao động chung trong phòng thí nghiệm, quy tắc an toàn trong sử dụng và hủy bỏ hóa chất trong phòng thí nghiệm, an toàn bức xạ, phòng ngừa hiểm họa và tai nạn lao động (thuật ngữ chung là risk assessment). Cách đây hơn 5 năm, khi lần đầu tiên đặt chân đến Vương quốc Anh, tôi cũng phải đánh vật với những khóa đào tạo như thế này. Qua Nhật làm việc, các khóa học kiểu này dù ít hơn, nhưng quy tắc an toàn và bảo vệ môi trường vẫn khá chặt chẽ. Singapore, một đất nước nhỏ hơn Hà Nội của ta hiện nay nhưng lại coi các vấn đề môi trường, an toàn lao động hết sức nghiêm trọng, và họ cũng bắt tôi phải tham gia đào tạo lại tất cả các quy trình trên nhằm hạn chế tối đa tai nạn lao động, bảo vệ môi trường. Một người lao động nói chung và một nhà nghiên cứu nói riêng cần phải được đảm bảo về sự an toàn cho lao động của họ và hiểu được tầm quan trọng của các quy tắc an toàn lao động cũng như bảo vệ môi trường. Theo logic chung, có lẽ các nước phát triển trên thế giới (Mỹ, Đức…) cũng tương tự vì vấn đề an toàn con người và môi trường luôn được đề cao.

Nội dung chung của các khóa học này là đào tạo người lao động (cụ thể ở đây là những nhà nghiên cứu) phải biết các quy tắc làm việc một cách an toàn nhất, giảm thiểu các nguy cơ tai nạn, đồng thời biết ứng phó những tình huống xấu (tai nạn, cháy nổ…) ra sao. Vấn đề xử dụng hóa chất được hết sức lưu tâm, đòi hỏi những người làm nghiên cứu (những người làm chuyên môn có sử dụng đến các hóa chất) ngoài việc biết sử dụng hóa chất cho công việc của mình, còn cần biết sử dụng an toàn, không gây hại cho bản thân, không gây ra các tai nạn hoặc ảnh hưởng đến người khác và phòng thí nghiệm. Trong các phòng thí nghiệm, chỉ những sai sót nhỏ, hoặc cố tình làm trái các quy tắc an toàn cũng có thể tao ra những tai nạn lao động từ nhỏ (nhiễm độc, thương tích nhỏ) đến lớn (cháy nổ, thương tật, thậm chí chết người). Chúng ta có thể xem một video ngắn dưới đây để thấy việc làm sai các quy tắc an toàn lao động trong phòng thí nghiệm (dù rất đơn giản) cũng có thể gây ra tai nạn nghiêm trọng ra sao.

Một vấn đề khác cũng quan trọng không kém là việc hủy bỏ, thải các hóa chất ra sao? Một cách đơn giản nhất, nếu ta sử dụng hóa chất trong phòng thí nghiệm một cách tùy tiện, đổ thẳng vào đường cống, hóa chất sẽ theo đường nước thải chảy ra ngoài, sau đó lại chảy ra cống, ra sông, biển, hoặc ngấm thẳng xuống mạch nước ngầm và sẽ phá hủy môi trường một cách nghiêm trọng. Chưa cần nói đến các nguy cơ xa như hủy hại sông hồ, chính chúng ta cũng sẽ có nguy cơ nhiễm lại những hóa chất độc hại đó từ những đường cống thải và nhiễm bệnh tật là điều tất yếu. Đặc biệt, những chất thải sinh học (có các vi khuẩn, virus…)  nếu bị thải một cách tùy tiện sẽ tạo ra những mầm bệnh cực kỳ nguy hiểm. Vì thế, chất thải khoa học cần được phân loại theo từng chủng loại, phải được thu hồi và xử lý, không được phép thải tùy tiện ra ngoài môi trường. Điều này tôi đã được chứng kiến các nước mà tôi đi qua (Anh, Nhật, Singapore) đều thực hiện một cách hết sức nghiêm ngặt. Đó cũng là lý do tại sao họ gìn giữ được môi trường xanh sạch đến vậy, qua đó cũng gián tiếp tạo nên sức khỏe tốt cho người dân.

Và tôi chợt nhớ về quá khứ xưa khi còn làm ở Việt Nam và những điều mà tôi được chứng kiến gần đây nhất ở trong các phòng thí nghiệm. Tôi chợt rùng mình khi nhận ra điều đó (và tôi cũng từng đóng góp cho sự phá hoại đó). Ở nước ta, hoàn toàn không có những điều trên. Những người khi tham gia làm khoa học (thực nghiệm trong phòng thí nghiệm) hoàn toàn không được đào tạo những kỹ năng an toàn lao động để tự bảo vệ bản thân, bảo vệ môi trường khoa học và bảo vệ môi trường thiên nhiên. Có thể ai đó nói rằng điều đó không có gì ghê gớm lắm vì nhiều hoạt động cũng không mấy nguy hiểm, nhưng vấn đề gây ô nhiễm thì lại đáng lưu tâm hơn. Tôi từng nhớ mình và các đồng nghiệp khác, từng dùng hóa chất cho các thí nghiệm của mình, dùng xong thì cứ vô tư đổ chúng xuống thẳng đường nước thải. Cứ như thế, ngày qua ngày, không biết bao nhiêu lit hóa chất độc hại đã bị chúng tôi “hồn nhiên” đổ xuống cống nước thải và từ đó chảy ra các sông hồ ở Hà Nội. Tôi đã tham khảo điều này với các đồng nghiệp khác ở Việt Nam, và được biết điều này cũng tương tự ở các trường đại học khác như Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, một số viện nghiên cứu khác thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tôi được chứng kiến các tủ hút hóa chất, cứ hồn nhiên hút các hơi hóa chất bằng quạt hút gió không qua các bộ lọc và xử lý, thổi thẳng lên trời, có nghĩa là không chỉ ô nhiễm đường nước, mà còn gây cả ô nhiễm không khí. Tình trạng đó cũng không khác bao nhiêu trong các phòng thí nghiệm về sinh, y học… Rất có thể những sự vô tình đến hồn nhiên này đã đóng góp vào tình trạng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí ở Hà Nội và các thành phố khác, góp phần tạo ra nhiều dịch bệnh từ những trủng virus được thải ra từ những phòng thí nghiệm y sinh. Một năm trước, khi tôi trở lại Việt Nam, tôi lại tận mắt chứng kiến những đồng nghiệp trẻ của mình ở Đại học Quốc gia Hà Nội vẫn hồn nhiên như tôi ngày xưa, ngày ngày đổ không biết bao nhiêu hóa chất nguy hiểm xuống cống mà không biết sự nguy hại của sự vô ý này. Lúc này, đơn vị nơi tôi từng làm việc xưa đã chuyển hết các hướng nghiên cứu (về vật liệu) từ các phương pháp vật lý (ít dùng các hóa chất độc hại) sang hướng nghiên cứu chế tạo vật liệu bằng các phương pháp hóa với nhiều loại hóa chất độc hại và gây ô nhiễm nhiều hơn. Nguy hiểm hơn là vẫn không có ai cảnh báo cho họ về sự nguy hại của việc này, và điều dễ hiểu là họ không hề nhận thức được những tác hại mà họ đang gây ra. Có nghĩa là hàng ngày hàng giờ, các hoạt động khoa học của chúng ta đang đầu độc nguồn nước, đầu độc không khí của các thành phố, và xa hơn sẽ là đầu độc mạch nước ngầm, các con sông và đe dọa sự trong lành của bầu không khí. Sự ô nhiễm nguồn nước ngầm bởi nhiều hóa chất sẽ tạo ra những chất độc hại trong nước sinh hoạt và đe dọa sức khỏe của chính chúng ta. Khi chúng ta hít một bầu không khí với bị nhiễm bẩn bởi các hơi hóa chất, chắc chắn chẳng hi vọng gì có một sức khỏe tốt. Vì vậy, ngay từ bây giờ, tôi rất mong các nhà chức trách ở Việt Nam cần hành động ngay để ngăn chặn việc này, làm sạch môi trường khoa học, ngăn cản các hành động gây ô nhiễm. Những hành động có thể tiến hành ngay là thu hồi các hóa chất thải, xử lý chúng trước khi thải ra. Các hơi, khí thải từ các phòng thí nghiệm hóa chất, y sinh cần được lọc và xử lý trước khi thải ra không khí. Hãy hành động ngay vì sức khỏe và môi trường.

3 Comments

  1. Một góp ý để làm bài viết tốt hơn: Vì đây là một bài viết nghiêm túc “serious” và rất đáng chia sẻ nên có lẽ tác giả nên tuân thủ nghiêm ngặt “strict” các quy tắc hành văn căn bản mà nổi bật trong đó là không nên sử dụng các từ tiếng Anh thay thế cho các từ tiếng Việt hoặc phải Việt hóa các từ tiếng Anh ra tiếng Việt trong bài viết ví dụ như “serious” hay “strict”. Dĩ nhiên, tác giả, bên cạnh việc sử dụng từ tiếng Việt, có thể sử dụng thêm từ tiếng Anh, để trong dấu ngoặc kép hoặc in nghiêng, để nhấn mạnh ý của câu.
    Trần Kiên

    1. Cảm ơn Trần Kiên đã góp ý. Bài viết sẽ được sửa đổi ngay theo đúng tiếng Việt

  2. em nhận thấy đây là một bài viết có tính thời sự cao. Thực trạng này, em nhận ra từ năm thứ nhất ngay khi bắt đầu với những tiết thực hành đầu tiên. Và bạn bè xung quanh em cũng nhận biết điều đó không có gì khó khăn cả. Em học ở khoa Hóa học, hóa chất chúng em sử dụng trong phòng thí nghiệm có những chất rất độc như Cr, Mn- và chúng em phải tìm hiểu trước sự nguy hiểm của chúng đối với môi trường để trả lời câu hỏi đầu giờ, nhưng sau khi thực hành xong thì hóa chất đó vẫn được đổ trực tiếp xuống cống và nguồn nước thải này sẽ được thải trực tiếp ra sông. Không chỉ có nguồn nước bị ô nhiễm, đất và không khí cũng chịu chung số phận. Chúng em- sinh viên đều biết là ô nhiễm này rất nguy hiểm, đầu tiên là cho chúng em và thầy cô giáo- những người thường xuyên tiếp xúc với môi trường có độ ô nhiễm cao, nhưng sau đó là môi trường ngoài khu vực thí nghiệm, đến sông, hồ, đến người dân, và các sinh vật sống xung quanh đó.
    Vậy câu hỏi đặt ra là: Với một sinh viên như em, em có thể giúp gì trong việc tự hạn chế được ô nhiễm trong phòng thí nghiệm của mình khi mà không có trang vật tư thiết bị hiện đại? em vẫn băn khoăn với câu hỏi: trước khi các nước phát triển đến trình độ xử lý chất độc tập trung (thu giữ chất ô nhiễm của từng phòng, từng khu, phân loại và xử lý tập trung) thì họ có xử xử lý ở quy mô nhỏ, quy mô phòng thí nghiệm không (Xử lý đến tận cùng để chất thải ra khỏi phòng thí nghiệm là một chất không độc nữa) ? Nếu có thì họ làm như thế nào, bước phát triển trong quy trình của họ như thế nào? liệu nước mình đã đủ tiềm lực để áp dụng nó vào để xử lý chất thải phòng thí nghiệm đúng quy cách hay chưa?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s