Duc The's homepage

27/01/2013

12th MMM/Intermag Chicago – Những điều còn lại…

IMG_0509Sau hơn 1 năm cặm cụi với việc setup phòng thí nghiệm mới, 12th MMM/Intermag ở Chicago là hội nghị quốc tế về từ học và vật liệu từ (magnetism and magnetic materials) đầu tiên tôi quay lại với cộng đồng magnetism để chém gió khoe khoang. Điều đọng lại sau 5 ngày hội nghị (14-18/01/2013) là magnetism giờ đã trở nên quá khó để vươn tới đỉnh cao và khám phá những điều mới.

Cái khó mặc định là muốn vươn tới đỉnh cao thì cần phải có trí tuệ phi thường, điều này không cần bàn nhiều. Nhưng một cái khó hiển hiện ở đây đối với cộng đồng làm magnetism là dường như magnetism đang bước dần vào ngưỡng cửa của những bài toán cuối cùng và khó khăn trong việc tìm ra một con đường mới.

Spintronics là chủ đề lớn nhất và nóng nhất được tạo ra từ các kiến thức của magnetism, hứa hẹn một tương lai tươi sáng của các linh kiện điện tử thế hệ mới kết hợp với spin của điện tử với một thế giới mới tiêu tốn vô cùng ít điện năng, tốc độ xử lý thông tin nhanh kinh hồn, khả năng lưu trữ mật độ siêu cao và hầu như vĩnh cửu, và xa hơn là máy tính lượng tử… Đến thời điểm present của 12th MMM/Intermag Chicago thì spintronics mới chỉ đạt được những ứng dụng ban đầu của công nghệ spin-transfer torque (STT) như STT MRAM.. Phần lớn của công nghệ STT còn đang bị vướng bởi vấn đề năng lượng tiêu hao lớn. STT MRAM đang được thử nghiệm ban đầu trong một số thiết bị lưu trữ và sẽ bùng nổ trong tương lai một vài năm tới. Theo dự đoán của tôi, người Nhật sẽ là nơi thương mại hóa mạnh nhất về STT MRAM (vì họ đã nắm trong tay công nghệ), trong khi người Mỹ, người Anh và người Đức là những người hiểu sâu sắc nhất về vật lý khoa học sâu sắc của công nghệ này bởi hầu hết các bài báo với các khám phá vật lý sâu sắc về chủ đề này đều được xuất phát từ Mỹ, Anh, Đức và Nhật. Điều này cũng có nghĩa là các nghiên cứu cơ bản về STT MRAM cũng sẽ sớm chấm dứt bởi hầu như không còn đất để khám phá. Các mảng khác của spintronics vẫn chưa hề thấy có gì đột phá, ngoài những sôi nổi nhỏ về spin caloritronics, sử dụng dòng spin để tạo sự thay đổi về nhiệt độ, hoặc ngược lại, nhưng chưa bùng nổ được như spin transfer torque. Một mảng khác trong spintronics cũng đang được nhen nhóm là dùng electric field để điều khiển spin (sẽ tạo ra sự tiêu tốn năng lượng vô cùng nhỏ) nhưng nó cũng quá khó vào thời điểm hiện tại. Tất nhiên spintronics vẫn chiếm tới gần 70% nội dung của toàn hội nghị, cho thấy sức nóng của nó.

Thế giới đã đi đến tận cùng của công nghệ ổ cứng, và các nhà từ học đang cố vớt vát những mảng cuối cùng của công nghệ này với thế hệ cuối cùng bit patterned media (BPM) nhưng nó hầu như không còn sự hấp dẫn về mặt vật lý. Các nghiên cứu về các màng mỏng với dị hướng từ khổng lồ cho công nghệ này hầu như ít được ngó nghiêng vì nó quá quen thuộc.

Mười năm trước, ứng dụng các hạt nano từ cho y – sinh học hấp dẫn một cách kinh khủng và người ta từng mường tượng ra tương lai điều trị các căn bệnh hiểm nghèo như ung thư… bằng các hạt nano từ. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở các nghiên cứu thử nghiệm nhỏ trên các nhóm tế bào mà chưa thể đem ra ứng dụng lâm sàng. Các nghiên cứu này từng vô cùng sôi nổi ở Mỹ và Châu Âu (nơi mà người ta không dễ đem cái gì lạ thử trên con người) bị vướng phải một vấn đề khó nuốt: độc tính của các hạt nano, và thế là nó ngày càng chìm dần. Đến năm nay, chủ đề này còn rất ít các bài bài ở hội nghị và không còn được nhiều khán giả quan tâm. Vật liệu từ nhiệt cho ứng dụng máy lạnh từ nhiệt không ô nhiễm, hiệu suất cao cũng từng hút người làm một cách kinh khủng vào khoảng 10 năm trước, nhưng đến nay cũng đã xẹp đi nhiều vì hầu như không đạt được nhiều điều so với những dự đoán: thế giới vẫn quanh quẩn tìm kiếm vật liệu có hiệu ứng từ nhiệt lớn mà chưa ra.

Một vấn đề khác mà nhiều nhà từ học từng cho rằng sẽ là con đường mới cho magnetism: spin ice materials – vật liệu có cấu trúc spin kiểu như tinh thể nước đá, bởi nó có thể giúp người ta tìm đến các đơn cực từ. Nhưng rất lạ là có khá ít bài báo cáo về chủ đề này ở hội nghị lần này.

12th MMM/Intermag ở Chicago diễn ra có phần hơi boring, khi mà các section được xé lẻ ở nhiều nơi xa nhau (mặc dù cùng một khách sạn) và diễn giả chỉ có 10 phút nói (trừ các invited talk được 25 phút). Ai cũng trình bày như ăn cướp và thảo luận chẳng được bao nhiều sau các bài nói. Ngược lại, các báo cáo poster lại hấp dẫn hơn, khi mà thời gian trình bày và thảo luận không bị hạn chế và tất cả các poster được tập trung tại một hall lớn của khách sạn. Poster của tôi được khá đông đồng nghiệp ở Châu Âu và Nhật quây, thảo luận rôm rả suốt gần 3 tiếng đồng hồ. Mệt, nhưng vui và pha lẫn chút bực vì bị lỡ mất một báo cáo quan trọng không thể nghe (vì phải oánh lộn ở poster).

Tôi rời hội nghị ra về với bao băn khoăn trong lòng, về một con đường khoa học mà tôi mới chỉ bắt đầu bước chân lên, về việc tìm một con đường riêng cho bản thân …

23/01/2013

Truyền spin (spin transfer) và bơm spin (spin pumping)

Filed under: Education,Materials Science,Physics,Science,Spin,Spintronics — ducthe @ 16:14

Đây là hai thuật ngữ trong ngành spintronics (điện tử học spin hay spin tử học) liên quan đến các thao tác đối với dòng spin, và cũng là những khái niệm quan trọng nhất trong ngành spintronics. Spintransfer và spin pumping là hai quá trình ngược nhau, một quá trình là dùng dòng spin để thao tác, còn một quá trình là thao tác nhằm tạo ra dòng spin.

Khái niệm về spin transfer lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1996 trong các công trình độc lập của Luc Berger (Đại học Carnegie Mellon) đăng trên tạp chí Physical Review B [1] và J. C. Slonczewski (IBM Thomas Watson) đăng trên Journal of Magnetism and Magnetic Materials [2]. Các lý thuyết này mô tả hiệu ứng từ độ của các lớp màng mỏng từ có thể bị xoay đi khi có một dòng điện tử phân cực spin truyền qua, hoặc tạo ra hiệu ứng sóng spin trong các màng mỏng (sự lan truyền của mômen từ như các sóng). Có thể mô tả đơn giản như sau: một dòng spin lan truyền khi va chạm với một mômen từ, có thể tạo ra 2 hiệu ứng: i) sự xoay chiều của mômen từ theo chiều phân cực của dòng spin, ii) sự chuyển động hồi chuyển của mômen từ. Quy tắc tạo ra sự đảo chiều các mômen từ gọi là “spin transfer torque”, có thể hiểu đơn giản là quy tắc truyền mômen xung lượng từ dòng spin cho mômen từ (xem bài viết khác của tôi về spin transfer torque).

Mô hình về spin transfer torque.

Năm 1996 cũng có thể coi là năm ra đời của khái niệm spin pumping trong công trình của Luc Berger trên tạp chí Physical Review B [1]. Trong bài báo này, ngoài việc mô tả sự thay đổi chiều của từ độ lớp màng mỏng bằng một dòng điện, thì Luc Berger còn dự đoán sự lan truyền của các sóng spin do sự đảo chiều liên tục của từ độ trong màng mỏng đa lớp. Và hiệu ứng bơm spin có thể hiểu đơn giản là sự chuyển động của từ độ sẽ tạo ra dòng spin. Dòng spin này chính là tác nhân tạo ra sự lan truyền các sóng spin như được mô tả trong bài báo của Luc Berger [1]. Nếu hiểu một cách hình ảnh, spin transfer giống như quá trình dòng điện chạy vào động cơ làm quay quạt, còn spin pumping là quá trình máy phát điện quay và tạo ra dòng điện.

Truyền dòng spin bằng spin pumping

Có một chương sách về vấn đề spin transfer và spin pump đã được viết khá kỹ lưỡng (tất nhiên là khá nặng về lý thuyết) bởi nhóm tác giả Arne Brataas, Yaroslav Tserkovnyak, Gerrit E. W. Bauer, Paul J. Kelly năm 2012. Đây là một phần trong cuốn “Spin current” chủ biên bởi S. Maekawa, E. Saitoh, S. Valenzuela and Y. Kimura và sẽ được nhà xuất bản Oxford University Press ấn hành trong thời gian tới. Và chương sách “Spin pumping and spin transfer” đã được nhóm tác giả phát hành (bản đầu tiên) miễn phí trên máy chủ Arxiv.org. Có thể download theo đường link này.

Tài liệu tham khảo

[1]. L. Berger, Phys. Rev. B 54, 9353 (1996).

[2]. J. C. Slonczewski, J. Magn. Magn. Mater. 159, L1 (1996).

21/07/2012

Chụp ảnh mạng tinh thể graphene: một bức tranh đẹp của hiển vi điện tử phân giải siêu cao

Graphene là một vật liệu siêu mỏng, chỉ bao gồm một lớp nguyên tử Carbon liên kết với nhau thành một mạng lưới với nhiều tính chất tuyệt vời. Nghiên cứu về graphene đã đem lại giải Nobel Vật lý năm 2010 cho 2 nhà khoa học gốc Nga đang làm việc tại Đại học Manchester (Anh quốc). Quan sát cấu trúc của mạng tinh thể graphene là một việc hết sức khó khăn và ít thiết bị có thể đem lại những hình ảnh đẹp. Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) với độ phân giải cao có thể quan sát các mẫu vật rắn với độ phân giải tới cấp độ nguyên tử, tuy nhiên, chùm điện tử có năng lượng cao của TEM thường phá hỏng mạng tinh thể của graphene và gây khó khăn cho việc tạo ảnh. Một giải pháp thường dùng đối với các mẫu carbon là hạ thấp hiệu điện thế gia tốc (xuống dưới 100 kV) nhằm giảm năng lượng chùm điện tử, tuy nhiên nó lại làm cho ảnh trở nên kém chất lượng và giảm độ phân giải. Các nhà khoa học Anh ở Đại học Oxford đã tìm ra được một giải pháp vượt qua những vướng víu này, đó là sử dụng một bộ lọc đơn sắc để tạo ra một chùm điện tử siêu đơn sắc (ở năng lượng thấp) và cho những bức ảnh tuyệt vời của mạng tinh thể graphene với độ phân giải tốt chưa từng có: dưới 1 Angstrom (dưới 0,1 nm) và quan sát ngay trong thời gian thực những dịch chuyển của các sai hỏng mạng của mạng tinh thể graphene.

Nhóm nghiên cứu từ Khoa Vật liệu, Đại học Oxford hợp tác với phòng thí nghiệm của Công ty Jeol (một trong những công ty hàng đầu thế giới cung cấp các thiết bị chùm điện tử) đã cải tiến kính hiển vi điện tử JEOL JEM-2200MCO với một hệ lọc đơn sắc đặt bên dưới súng phóng điện tử (là một súng phát xạ trường), cho phép lọc điện tử với độ phân tán năng lượng tới 126 meV ở thế tăng tốc 80 kV (nên nhớ là khi hạ thế tăng tốc thì độ phân tán năng lượng sẽ tăng lên nhiều lần). Kính hiển vi này cũng được lắp bộ khử cầu sai (spherical aberration corrector) cho phép giảm cầu sai bậc 1 xuống -204 nm, và bậc 3 xuống -1,162 µm (nên nhớ là các thiết bị TEM không có bộ khử cầu sai thì cầu sai có thể đạt tới cấp millimet).

Hình 1. Phân bố năng lượng của chùm điện tử sau khi qua bộ lọc đơn sắc (ảnh từ Science).

Ảnh 2 dưới đây là một kết quả của nhóm nghiên cứu Oxford có được sau khi tối ưu hoá thiết bị. Mạng tinh thể của graphene được quan sát một cách rất rõ nét (chú ý là ảnh màu là ảnh tạo ra bởi phần mềm để tạo các hiệu ứng cho quan sát – ảnh thực HRTEM là ảnh đen trắng). Vì chụp ở chế độ HRTEM, các cấu trúc có thể quan sát trong thời gian thực (real time) và cho phép quan sát sự dịch chuyển của các sai hỏng mạng trong mạng tinh thể graphene.

Hình 2. Ảnh chụp HRTEM các mạng tinh thể graphene với các sai hỏng mạng dịch chuyển được chụp trong thời gian thực (A – 0 s, B – 141 s, C – 321s), các ảnh D, E, F là ảnh mô phỏng tương ứng được dựng lại từ ảnh TEM). Hình ảnh từ Science.

Vật liệu graphene trong công trình này được chế tạo bằng phương pháp lắng đọng pha hơi hoá học trên đế đồng. Sau đó được phủ bằng PMMA để bảo vệ và đế đồng được ăn mòn còn lại graphene bám trên màng PMMA. Màng PMMA dễ dàng được rửa trôi nhờ dung môi hoá học và graphene được lắng lại trên đế mỏng SiN cho phép điện tử xuyên qua cho các phép chụp ảnh TEM. Có thể đọc chi tiết về các kết quả tuyệt vời này trên bài báo vừa xuất bản trên tạp chí Science (Science 337, 209).

15/05/2012

Làm quen với spintronics

Trong rất nhiều các bài viết của tôi, tôi thường nhắc đến một thuật ngữ “spintronics” mà bài gần đây nhất có giới thiệu một hướng nghiên cứu trong spintronics dựa trên các vật liệu phản sắt từ, hay những thử thách về linh kiện spintronics sử dụng chất bán dẫn, mà quên không có một bài giới thiệu “spintronics là gì”. Đối với những nhà nghiên cứu các vấn đề trong vật lý chất rắn và khoa học vật liệu, có lẽ thuật ngữ “spintronics” không còn quá xa lạ (xem loạt bài về chủ đề spintronics trên blog của tôi), nhưng có lẽ nó còn khá mới mẻ với các bạn đọc ở còn ngồi trên ghế nhà trường (sinh viên đại học, học sinh phổ thông, hay thậm chí các anh chị cao học học chuyên môn không liên quan). Một điều hơi đáng tiếc là hướng nghiên cứu này ở Việt Nam hiện nay ít được quan tâm do sự đổi hướng nghiên cứu từ những nhà quản lý khoa học và vật lý nên khiến cho các bài giảng về nó trong các chuyên đề vật lý cũng hầu như biến mất. Bài viết này hi vọng sẽ là một lời giới thiệu sơ lược về một ngành nghiên cứu đang rất nóng bỏng trên thế giới, hứa hẹn một thế giới linh kiện điện tử mới hoàn toàn khác với thế giới bán dẫn của thế kỷ 20.

Spin điện tử và spintronics?

Nếu tôi không nhầm spintronics từng được một số nhà vật lý ở Việt Nam dịch ra một số thuật ngữ khác nhau là: “điện tử học spin”, hoặc “spin tử học”, và chính bản thân tôi khi viết bài trên wiki tiếng Việt đã dịch là “điện tử học spin”, nhưng rồi cũng bị vướng vào băn khoăn không rõ dịch như vậy đúng hay sai (tôi không phải là nhà ngôn ngữ học). Chúng ta có thể xuất phát từ tiếng Anh. Trong một bài tổng quan giới thiệu về spintronics của nhóm tác giả Igor Žutić, Jaroslav Fabian và S. Das Sarma đăng trên tạp chí danh tiếng Reviews of Modern Physics năm 2004 (Rev. Mod. Phys. 76, 323–410 (2004)), spintronics được định nghĩa là: “Spintronics is a multidisciplinary field whose central theme is the active manipulation of spin degrees of freedom in solid-state systems.”, tạm dịch là “Spintronics là một lĩnh vực đa ngành mà chủ đề trung tâm là các thao tác tích cực lên các bậc tự do của spin trong các hệ chất rắn”. Khái niệm spin ở đây cần được chú thích thêm là spin của đơn điện tử được thể hiện qua mômen từ spin ms = -g.mB.S (mB Bohr magneton, g là thừa số Landé có giá trị 2,0023 cho điện tử tự do, S là mômen spin) hoặc qua spin trung bình của một hệ các điện tử liên hợp thể hiện qua từ độ của hệ. Có thể tạm hiểu đơn giản là spintronics là một lĩnh vực đa ngành, mà trái tim của nó là nghiên cứu điều khiển spin của điện tử trong vật liệu (kết hợp với nhiều các thao tác khác như quang, điện…) để xây dựng lên những khái niệm linh kiện kiểu mới – linh kiện có thông tin dựa trên spin điện tử. Spintronics là từ kết hợp của spin electronics, tức là nó có thể tạm hiển là một thế hệ linh kiện điện tử mới với các tính chất đặc biệt dựa trên spin của điện tử – theo một định nghĩa khác trên một bài tổng quan năm 2001 trên tạp chí Science (S. A. Wolf et al., Science 294, 1488-1495 (2001)). Tôi đặc biệt khuyên các bạn trẻ tìm hiểu về spintronics nên đọc hai bài báo này,  đây là những bài báo tổng quan có thể là tốt nhất về spintronics hiện nay.

Tôi muốn dành vào dòng để nói lại về spin của điện tử. Điện tử có hai đặc tính rất quan trọng là điện tích và spin. Điện tích đã được con người khai thác từ rất lâu mà đặc trưng đơn giản đó là dòng điện. Các linh kiện điện tử truyền thống sử dụng điện trường để điều khiển điện tích của điện tử trong các linh kiện. Spin là một đặc trưng của điện tử, được hiểu một cách đơn giản là tạo ra từ việc điện tử (mang điện tích) chuyển động quay quanh trục của nó giống như Trái Đất và các hành tinh… tạo nên mômen động lượng spin và mômen từ spin (chú ý đây là cách hiểu đơn giản theo kiểu cổ điển, còn mô tả theo cơ lượng tử thì nghe “rắc rối” hơn). Spin của điện tử có độ lớn là S = \frac{1}{2} \hbar, và có thể định hướng theo 2 chiều là chiều lên (spin up) và chiều xuống (spin down).

Linh kiện spintronics làm việc như thế nào?

Bạn có thể tưởng tượng một cách rất hình ảnh và đơn giản là đơn vị điều khiển của spintronics là dòng spin. Nếu như trong linh kiện điện tử cổ điển, bạn điều khiển dòng điện tích để tạo ra tín hiệu thì ở linh kiện spintronics, bạn điều khiển dòng spin. Về nguyên tắc, dòng điện tích điều khiển phải sử dụng điện trường, do đó nó sẽ dễ dàng bị nhiễu bởi các yếu tố điện – từ trường bên ngoài, đồng thời thường đòi hỏi tiêu tốn một lượng điện năng lớn. Bên cạnh đó, chuyển động của dòng điện tích chỉ là chuyển động cơ học của các hạt vật chất, do đó rất khó tạo ra được tốc độ cao. Có nghĩa là công nghệ bán dẫn truyền thống đang bước tới gần giới hạn cuối cùng của thang kích thước, năng lượng và tốc độ. Ngược lại, dòng spin chuyển động có thể không mang yếu tố cơ học (thuần là các mômen spin chuyển động theo dạng sóng), không bị nhiễu bởi điện từ trường ngoài và trên nguyên tắc năng lượng tiêu tốn rất thấp. Và con người mong muốn tạo ra một thế hệ điện tử mới (spintronics) tiêu tốn ít năng lượng, tốc độ hoạt động nhanh và không bị nhiễu. Điều lý thú hơn cho các thiết bị lưu trữ thông tin nếu sử dụng công nghệ spintronics là thông tin spin gần như vĩnh cửu bởi spin chỉ có định hướng theo hai chiều và nó lưu lại theo kiểu tương tự như nam châm vĩnh cửu. Spintronics khi kết hợp với công nghệ nano sẽ tạo ra những linh kiện ở thang nano, và do đó tăng mật độ linh kiện.

Các kiểu linh kiện spintronics (Hình từ Tohoku Univ.).

Như vậy, điều khiển dòng spin chính là then chốt của công nghệ spintronics. Tôi muốn đi xa thêm một số khái niệm về việc “điều khiển dòng spin”:

-          Dòng spin (spin current): là dòng chuyển động của các spin. Đại lượng đặc trưng cho dòng spin là “độ phân cực spin” (spin polarization), là đại lượng được xác định bằng mức độ định hướng theo một chiều nhất định của spin trong các hạt cơ bản, được xác định là phần trăm sai khác giữa nồng độ các spin định hướng theo hai phương lên hoặc xuống:

P = \frac{n_{\upharpoonright} - n_{\downharpoonright}}{n_{\upharpoonright} + n_{\downharpoonright}}

Với n_{\upharpoonright}, n_{\downharpoonright} lần lượt là số lượng spin định hướng theo các chiều up và down.

-          Truyền spin (spin transfer): khả năng truyền spin từ các dòng spin tới các nguyên tử vật liệu, từ khu vực này tới khu vực khác. Chú ý là vấn đề truyền spin trong các vật liệu phi từ tính là một vấn đề rất khó, đó cũng là một lý do mà đến nay hầu hết spintronics vẫn chưa thể nhảy ra ngoài thị trường. Một trong những cơ chế truyền spin là spin-transfer torque tôi từng viết bài giới thiệu trước đây.

-          Tiêm spin (spin injection), bơm spin (spin pumping): khả năng đưa spin vào các vùng không có spin bằng các nguồn bên ngoài.

-          Tích lũy spin (Spin accumulation): khả năng tích lũy spin tại các khu vực theo ý muốn.

-          Điều khiên spin bằng ánh sáng

Các linh kiện spintronics

Một cách tương đối, có thể chia các linh kiện spintronics thành 3 thế hệ:

Thế hệ thứ nhất: Gồm các linh kiện dựa trên các hiệu ứng từ điện trở như GMR, TMR, trong các màng mỏng từ tiếp xúc dị thể kim loại-kim loại hoặc kim loại-điện môi…, ví dụ như các cảm biến, đầu đọc từ trở trong các đĩa cứng, các bộ nhớ RAM từ điện trở (MRAM), các transitor kim loại (hay transitor lưỡng cực), transitor valse spin, công tắc/khoá đóng mở spin, …

Thế hệ thứ hai: Bao gồm các linh kiện hoạt động dựa trên việc tiêm hoặc bơm dòng phân cực spin qua tiếp xúc dị thể bán dẫn-sắt từ hay bán dẫn từ-bán dẫn (điều này giúp cho việc tận dụng được các kỹ thuật vi điện tử hiện nay). Đó là các mạch khoá siêu nhanh, các bộ vi xử lý spin và mạch logic lập trình được,… Các linh kiện này sử dụng các vật liệu bán dẫn pha loãng từ, bán dẫn sắt từ hay các bán kim, các linh kiện vận chuyển đạn đạo (ballistic electron transport) sử dụng hiệu ứng từ điện trở xung kích, và các loại transistor spin như ở thế hệ thứ nhất. Một thế hệ linh kiện spin mới đang được phát triển mạnh và rất có triển vọng hiện nay là các bộ nhớ từ và các cổng lôgic dựa trên điều khiển vách đômen trong các cấu trúc nano từ tính.

Thế hệ thứ ba: Là các linh kiện sử dụng các cấu trúc nano (dạng chấm lượng tử, dây và sợi nano) và sử dụng các trạng thái spin điện tử đơn lẻ như cổng logic lượng tử (là cơ sở cho máy tính lượng tử), các transistor đơn spin (SSET), …

Spin transistor (hình từ wiki).

Cảm biến van spin thuộc thế hệ linh kiện đầu tiên đã được chế tạo và đưa vào sử dụng ở mức độ thương phẩm từ cuối thế kỷ 20 trong các đầu đọc của ổ đia cứng. Một số linh kiện điển hình của thế hệ này là kính hiển vi từ điện trở, đầu đọc ghi ổ cứng tốc độ cao, phím bấm không tiếp xúc, động cơ không chổi than, giải mã vạch, đếm tốc độ, máy trợ thính, … Các bộ nhớ MRAM không tự xóa đang bắt đầu có sản phẩm thương phẩm, và được dự đoán là sẽ chiếm lĩnh thị trường thương mại và tiêu dùng trong những năm sắp tới.

Lịch sử của spintronics

Spintronics thực ra là một ngành rất mới, chỉ mới ra đời hơn 20 năm trước, sau những thành tựu của hiệu ứng từ điện trở khổng lồ và những thành tựu tiếp theo về các vật liệu sắt từ (các vật liệu có độ phân cực spin cao, vật liệu quang từ…). Giải Nobel Vật lý năm 2007 trao cho Albert Fert và Peter Grünberg cho phát minh của họ về hiệu ứng từ điện trở khổng lồ chính là một ghi nhận sự phát triển của spintronics. Và đến nay, spintronics có thể tạm theo ba trường phái:

Spintronics trong các vật liệu kim loại: Hướng nghiên cứu này phát triển dựa trên các thành tựu về hiệu ứng từ điện trở, tạo ra từ các màng mỏng kim loại sắt từ. Sản phẩm ở mức độ thương phẩm của hướng nghiên cứu này là ổ cứng dung lượng cao, bộ nhớ RAM từ điện trở… Hướng nghiên cứu này đang trở nên mạnh mẽ và rất có triển vọng phát triển thành hiện thực với sự phát triển của dòng linh kiện điều khiển các vách đômen trong các cấu trúc nano từ tính. Việc điều khiển động học của các vách đômen cho phép tạo ra các cổng lôgic, các bộ nhớ… với chất lượng cao và cơ cấu rất đơn giản. Bài viết gần đây của tôi giới thiệu về bộ nhớ racetrack chính là thành tự theo trường phái này.

Spintronics sử dụng các vật liệu bán dẫn: Hướng nghiên cứu này tạo ra các linh kiện spintronic dựa trên việc điều khiển dòng điện tử phân cực spin trong các vật liệu bán dẫn. Để tạo ra được linh kiện loại này thì việc tiêm spin, điều khiển spin và ghi nhận spin phân cực trong chất bán dẫn đóng vai trò then chốt.

Spintronics điều khiển siêu nhanh nhờ ánh sáng: Sử dụng các xung laser cực ngắn, điều khiển các spin với tốc độ siêu nhanh, cho phép tạo ra các linh kiện spintronics có tốc độ cao. Bài viết gần đây của tôi có giới thiệu thành tựu này.

Bộ nhớ racetrack memory: linh kiện lưu trữ spintronics điều khiển vách đômen (IBM Almaden).

03/05/2012

Spintronics dựa trên vật liệu phản sắt từ

Spintronics bắt đầu được phát triển dựa trên các thành tựu về hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (từ điện trở khổng lồ, từ điện trở chui hầm…) và được dựa trên hai nền tảng vật liệu là các vật liệu sắt từ kim loại và vật liệu bán dẫn pha loãng từ[1]. Các phát triển gần đây của các linh kiện spintronics dựa trên hiệu ứng spin-transfer torque, như các bộ nhớ MRAM từ điện trở, các linh kiện vách đômenlinh kiện kết hợp với các tương tác quang,… cho thấy rằng hiện thực hóa các linh kiện spintronics chỉ còn là vấn đề thời gian (mặc dù các linh kiện dựa trên bán dẫn từ còn quá nhiều bế tắc do vấn đề vật liệu để có thể đi đến thực tế). Một hướng nghiên cứu mới về spintronics mới chỉ được phát triển trong một vài năm trở lại đây (tức là hầu như còn rất mới trong làng spintronics) là spintronics dựa trên các vật liệu phản sắt từ[2]. Đây là một ý tưởng hoàn toàn mới trong lĩnh vực này bởi trước đây ít ai nghĩ rằng các vách đômen hay đômen phản sắt từ có thể tồn tại trong các vật liệu phản sắt từ, cũng như vật liệu này có thể truyền tải các thông tin spin. Thế nhưng những khám phá mới đây về các đômen phản sắt từ[3] của các nhà khoa học Mỹ và Anh lại gợi lên ý tưởng cho các nhà nghiên cứu về một tương lai xa hơn của các linh kiện spintronics: sử dụng vật liệu phản sắt từ làm đối tượng chính.

Trong bài viết tổng quan định hướng cho tương lai ngành spintronics xuất bản trên tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society A, Yeong-Ah Soh and Ravi K. Kummamuru (hai nhà nghiên cứu đang làm việc tại Imperial College London, Vương quốc Anh và Đại học Dartmouth, Hoa Kỳ) đã giới thiệu những kết quả ban đầu của quá trình truyền tải spin trong màng mỏng Cr (một vật liệu phản sắt từ điển hình). Các hiệu ứng spin Hall và hiệu ứng từ điện trở được phát hiện và cho là liên quan đến sự thay đổi cấu hình từ độ trong vật liệu phản sắt từ (cấu hình mặc nhiên của chúng là các mômen từ định hướng đối song song và triệt tiêu nhau) và các hiệu ứng này có thể đo được với độ lớn tương đương với đóng góp về từ điện trở vách đômen trong các vật liệu sắt từ nano. Đồng thời, quá trình truyền sóng spin (spin wave) cũng được dự đoán trong các vật liệu sắt từ[4]. Trước đó, các kết quả này cũng đã được nhóm nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature[5]. Đây là những kết quả ban đầu hết sức mới mẻ có thể là tiền đề cho các nghiên cứu trong tương lai mặc dù các hiệu ứng mới chỉ được ghi nhận ở dải nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ phòng. Rất có khả năng, một trào lưu nghiên cứu mới về spintronics dựa trên các quá trình truyền spin trong các vật liệu phản sắt từ sẽ được đẩy mạnh trong thời gian tới.

(a) Mặt phẳng Fermi trong màng mỏng Cr, (b) điện trở suất Hall và mật độ hạt tải phụ thuộc vào nhiệt độ (Kết quả của nhóm Soh và Kummamuru).

Toàn văn bài báo tổng quan: Yeong-Ah Soh and Ravi K. Kummamuru, “Spintronics in antiferromagnets”, Phil. Trans. R. Soc. A 28, 3646-3657 (2011).

Thêm về tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society A: Đây là series dành cho các vấn đề về khoa học vật lý, toán học và công nghệ của hệ thống tạp chí Philosophical Transactions of the Royal Society xuất bản bởi Hội Hoàng gia London (Hàn lâm Viện Vương quốc Anh). Đây là hệ thống tạp chí khoa học đầu tiên trên thế giới, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1665 theo mô hình tạp chí khoa học hiện đại: tức là xuất bản các tri thức khoa học dưới dạng các bài báo và sử dụng hệ thống phản biện khoa học chặt chẽ và nghiêm túc để đánh giá bài báo. Chỉ số ảnh hưởng (impact factor) của series A là 2,627, nhưng nó vẫn được xếp vào những tạp chí uy tín và khó đăng nhất thế giới.

 

Tham khảo

[1] Igor Žutić, Jaroslav Fabian and S. Das Sarma, Rev. Mod. Phys. 76, 323–410 (2004).

30/04/2012

Kỷ nguyên linh kiện nano vách đômen

Đômen và vách đômen trong các vật liệu sắt từ là những khái niệm cơ bản về từ học vi mô đã được giả thiết từ năm 1906 bởi nhà vật lý người Pháp Pierre-Ernest Weiss[1], sau đó được kiểm chứng bằng thực nghiệm năm 1919 bởi Heinrich Barkhausen (một nhà vật lý người Đức) nhờ hiệu ứng bước nhảy Barkhausen[2] và những quan sát thực nghiệm của Fransis Bitter[3] năm1930 ở Mỹ. Đômen và vách đômen là những cấu trúc vi mô tạo nên bởi các mômen từ trong lòng các vật liệu sắt từ. Tương ứng với vật liệu sắt từ, các vật liệu sắt điện cũng được quan sát với cấu trúc vi mô tương tự, có nghĩa là tồn tại vi cấu trúc tương tự là các đômen sắt điện – và vi cấu trúc này được phát hiện vào năm 1967[4]. Những phát hiện này cho phép hiểu được chính xác nguồn gốc cũng như sự vận động nội tại của các vật liệu sắt điện và sắt từ, qua đó giúp cho việc tạo ra các vật liệu sắt điện, sắt từ mới, và gần đây là vật liệu tổ hợp nhiều tính chất “sắt” (sắt điện – sắt từ trong nội tại một vật liệu).

Ảnh động hệ các vách đômen và đômen đang vận động trong mẫu hợp kim FeSi (ảnh wiki).

Cùng với kỷ nguyên spintronics đang đến gần, các linh kiện thế hệ mới điều khiển các cấu trúc đômen từ và đômen sắt điện lại đang trở nên nóng hơn bao giờ hết. Chúng hứa hẹn tạo ra hàng loạt linh kiện điện tử spin thế hệ mới với các tính năng vượt trội như bộ nhớ racetrack chất lượng cao, bộ nhớ RAM từ điện trở, bộ nhớ RAM sắt điện (FERAM), các mạch logic điều khiển spin, … và đang dần hiện thực hóa giấc mơ của nhân loại về thế hệ các linh kiện điện tử spintronics thay thế cho các linh kiện điện tử cổ điển đang “chết dần chết mòn”.

Đây chính là nội dung của bài báo tổng quan bởi nhóm các tác giả G. Catalan (Barcelona, Tây Ban Nha), J. Seidel, R. Ramesh (California, Hoa Kỳ), J. F. Scott (Cambridge, Anh Quốc) đăng trên tạp chí danh tiếng Reviews of Modern Physics năm 2012 (Rev. Mod. Phys. 84, 119–156 (2012)). Đây là một bài viết tổng hợp rất có giá trị, tổng kết những nội dung nghiên cứu nóng bỏng nhất trong thời kỳ này liên quan đến các kỹ thuật điều khiển vách đômen (sắt từ và sắt điện) trong các cấu trúc nano cho các linh kiện điện tử nano tương lai. Bài viết cũng tổng kết một số phương pháp phân tích các cấu trúc nano với vách đômen sắt từ và sắt điện. Tham khảo tóm tắt bài viết và đọc toàn văn tại đây:

G. Catalan, J. Seidel, R. Ramesh and J. F. Scott, “Domain wall nanoelectronics”, Rev. Mod. Phys. 84, 119-156 (2012).

Bài viết này cũng được viết trên Diễn đàn Vật lý Việt Nam.

Tham khảo

[1] P. Weiss, J. Phys. Theor. Appl. 6 (1907) 661-690.

[2] H. Barkhausen, Phys. Z. 20 (1919) 401- 402.

26/04/2012

Những thử thách cho linh kiện bán dẫn spintronics

Một bài viết cũ của tôi trên trang chủ Vật lý Việt nam.

Các linh kiện vi điện tử khai thác đồng thời cả spin của điện tử cũng như điện tích của điện tử được gọi là các linh kiện spintronics hứa hẹn sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong công nghiệp điện tử. Bài viết này được dịch từ bài viết của Tony Bland*, Kiyoung Lee và Stephan Steinmüller (đều đang làm việc tại Phòng thí nghiệm Cavendish, Đại học Cambridge, Vương quốc Anh) tóm tắt về những thử thách mà “cuộc cách mạng” này gặp phải nhằm tìm ra một phương hướng có thể tích hợp các chất bán dẫn vào mạch điện của spintronics (bài viết là một bài viết tiêu điểm của Tạp chí Physicsworld).

1. Mở đầu
Tám mươi năm trước, các nhà vật lí lí thuyết gặp phải một vấn đề: họ thiếu một cách mô tả các hạt cơ bản sao cho phù hợp với những nguyên lí trong lí thuyết tương đối hẹp của Eistein và lí thuyết mới hình thành là cơ học lượng tử. Vào năm 1927, Erwin Schrödinger đã thiết lập phương trình cho chuyển động cơ học lượng tử cho các điện tử, nhưng nó lại cũng vấp phải vấn đề là chính các điện tử cũng là các hạt tương đối tính. Bị băn khoăn bởi vấn đề này, Paul Dirac đã xây dựng hệ thống để giải các bài toán.
Phương trình Dirac đến sau năm đó là một thành công rực rỡ về mặt toán học cho phép giải thích hai hiện tượng vật lí không mong muốn. Đầu tiên là sự tồn tại của các phản hạt, lần đầu tiên được xác nhận vào năm 1932 với sự phát hiện ra các positron (phản hạt của điện tử). Thứ hai là điện tử phải có một mômen động lượng riêng, hay còn gọi là spin, mà chỉ có hai chiều định hướng (hướng lên trên – up, hướng xuống dưới – down) theo chiều của từ trường đặt vào.
Điện tử được “pháp luật công nhận” là trái tim của cách mạng vi điện tử, nơi mà nó phải chạy như một con thoi trong các chất bán dẫn (mà phổ biến là Silicon – Si) để cho phép các transistor và các linh kiện các hoạt động. Và cho đến tận bây giờ, sau hơn 70 năm phát hiện mang tính chất đột phá về spin của điện tử, các linh kiện điện tử, từ các lò vi sóng cho đến các thiết bị trong thiên văn, vũ trụ học vẫn chỉ khai thác duy nhất thuộc tính điện tích của điện tử, hay nói cách khác, công nghiệp bán dẫn đã chút nữa bỏ quên mất thuộc tính spin của điện tử.
Một lí do “biện hộ” cho vấn đề này là sự thành công trong việc tí hon hóa các linh kiện. Trong vòng 40 năm qua, số lượng transistor trên một đơn vị diện tích có thể ăn mòn trong một chíp Si, cứ 18 tháng lại tăng gấp đôi theo đúng xu hướng của định luật Moore. Nhưng rồi chúng ta cũng nhanh chóng tiến tới giới hạn mà kích thước nhỏ và sự xếp chặt các transistor có thể gặp phải là lượng nhiệt sản sinh ra không thể tản mát một cách đủ nhanh, và những hiệu ứng cơ học lượng tử không mong muốn có thể loại chúng đến những thuộc tính mà ta không mong muốn chút nào.
Nếu như định luật Moore còn tiếp tục, ta sẽ phải tìm ra một cách khác với kỹ thuật vi điện tử truyền thống – và đây chính là thời kì mà spin của điện tử cần được khai thác trong các linh kiện điện tử – spintronic. Trong khi mà các linh kiện truyền thống trên nguyên lí chỉ là sự điều khiển dòng các điện tích thì một linh kiện spintronic cũng sẽ là điều khiển dòng spin của điện tử (gọi là dòng spin) trong các linh kiện, tạo ra thêm một bậc tự do nữa.

Hình 1. Spindoctor: Bằng cách pha tạp Mn, tính sắt từ được tạo ra trong chất bán dẫn GaAs, do đó cho phép sử dụng trong tiêm spin (Kết quả của A Yazdani và D Kitchen, Princeton University).

Bởi vì spin của điện tử có thể đảo chiều (đảo giữa 2 chiều up và down) nhanh hơn rất nhiều so với việc điều khiển dòng điện tích chạy trong mạch điện, do đó các linh kiện spintronic sẽ hoạt động nhanh hơn và tiêu tốn ít nhiệt hơn nhiều so với các phần tử vi điện tử truyền thống. Một trong những mục tiêu cơ bản là xây dựng lên các transistor trên cơ sở spin mà có thể thay thế các transistor truyền thống trong mạch tích hợp và các linh kiện nhớ, và do đó cho phép sự “tí hon hóa” vẫn được tiếp tục.Tuy nhiên, spintronics cũng mở ra một cánh cửa tới một loại linh kiện hoàn toàn mới, ví dụ như các diode phát quang (LED) mà có thể tạo ra ánh sáng phân cực tròn trái hay phải có thể sử dụng trong thông tin viễn thông mật mã. Và nhìn xa hơn nữa về tương lai, các linh kiện spintronic thậm chí có thể sử dụng để tạo nên các bit lượng tử (qubit), đơn vị của thông tin được xử lí bởi máy tính lượng tử.
Tuy nhiên, để có thể tạo ra cuộc cách mạng spintronic, các nhà nghiên cứu cần tìm ra cách để tiêm (inject), thao tác (manipulate) và ghi nhận spin của điện tử trong các chất bán dẫn bởi dường như các vật liệu này vẫn chiếm vị trí trung tâm trong vật lí các linh kiện trong một tương lai có thể dự đoán được. Thao tác trên các spin dường như đang trên đà thẳng tiến, nhưng tiêm và ghi nhận spin vẫn còn vấp phải hàng loạt vấn đề dưới các trở ngại thực tế, tạo nên một thử thách lớn.

2. Thành tựu khổng lồ
Spin của điện tử thực ra đã là một vấn đề lớn ngay bên ngoài công nghiệp điện tử. Trên thực tế, các linh kiện spintronics trên nền các kim loại từ tính đã được tạo ra trong các đĩa cứng ở trên mọi máy tính có mặt trên hành tinh này. Từ năm 1988, Peter Grünberg (Trung tâm Nghiên cứu Jülich, Đức), và Albert Fert (Đại học Paris-Sud, Pháp) đã độc lập phát hiện ra rằng dòng điện tử phân cực spin giữa hay lớp mỏng các kim loại sắt từ ngăn cách bởi một lớp phi từ có thể tăng khoảng 3% bằng cách thay đổi sự định hướng tương đối về từ độ giữa các lớp từ tính từ song song đến phản song song. Đó là hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (Giant MagnetoResistance – GMR), và phát hiện này đã đem lại giải Nobel Vật lí năm 2007 cho hai nhà vật lí này. Ứng dụng ngay lập tức của hiệu ứng này là tạo nên đầu đọc ổ cứng nhạy hơn rất nhiều, và do đó có thể đọc được những thông tin lưu trữ trong những bit từ rất nhỏ trên đĩa từ – có nghĩa là giúp cho việc tăng mật độ lưu trữ của đĩa từ.

Hình 2. Spin-based devices: Nguyên lý một số linh kiện sử dụng spin: transistor phân cực spin, LED phát quang spin....

Khả năng vận chuyển spin giữa hai lớp kim loại cũng là nền móng cho các bộ nhớ RAM từ trở (MRAM) - một phần tử nhớ kiểu mới của máy tính mà cho phép giữa lại thông tin mà không đòi hỏi nguồn nuôi. MRAM được giựa trên hiệu ứng tương tự như GMR là hiệu ứng từ điện trở chui hầm (Tunnelling MagnetoResistance – TMR), mà ở đó sự thay đổi về tính chất điện được tạo ra khi hai lớp kim loại sắt từ bị ngăn cách bởi một lớp vật liệu cách điện rất mỏng, ví dụ như nhôm ôxit (Al2O3), manhe ôxit (MgO)… Thay vì các điện tử phân cực spin khuếch tán một cách chậm chạp từ lớp sắt từ này sang lớp khác như trong GMR, ở TMR, chúng phải chạy qua nhờ hiệu ứng chui hầm lượng tử (trong cơ học cổ điển điều này là không thể do sự ngăn cách của rào thế của lớp cách điện) – và các linh kiện kiểu này được gọi là các lớp tiếp xúc từ chui hầm (Magnetic tunnelling junctions – MTJs). Nguyên lí loại trừ Pauli lúc này sẽ sảy ra. Sự chui hầm – và do đó có sự vận chuyển spin qua rào thế – chỉ có thể xảy ra nếu có các trạng thái trống với cùng spin ở chiều khác của rào thế, có nghĩa là sự chui hầm ở đây phụ thuộc vào spin (spin-dependent tunnelling).

Hình 3. MTJs: Lớp tiếp xúc từ chui hầm.

Thực chất, hiệu ứng chui hầm phụ thuộc spin đã được phát hiện từ năm 1975 bởi Michel Jullière ở Trung tâm Khoa học Ứng dụng Quốc gia ở Lyon, Pháp nhưng ở nhiệt độ thấp. Và sự đột phá chỉ diễn ra khi Terunobu Miyazaki (Đại học Tohoku, Nhật Bản) và Jagadeesh Moodera (Viện Công nghệ Massachusetts, MIT, Mỹ) độc lập phát hiện ra hiệu ứng TMR xảy ra ở nhiệt độ phòng. Thật không may, sự thay đổi của điện trở suất (tỉ số TMR) trong các linh kiện của Miyazaki và Moodera chỉ là từ 12 đến 18%, có nghĩa là thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu thực tế để có thể sử dụng trong các linh kiện nhớ. Tuy nhiên, hàng loạt các nghiên cứu tiếp theo về hiệu ứng TMR đã cải thiện tính chất này, và tạo ra hiệu ứng TMR trong các linh kiện công nghiệp đến 70% ngay từ những năm cuối của thập kỉ 90 của thế kỉ 20.
Và gần đây, khả năng chế tạo một cách tự động các lớp chuyển tiếp (interface) mỏng giữa các lớp kim loại và các lớp ôxit (ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu ứng TMR) đã cho phép tạo ra hiệu ứng TMR tới 400% theo như các nghiên cứu của nhóm Stuart Parkin (Trung tâm Nghiên cứu Almaden IBM, California, Mỹ) và Shinji Yuasa ở Viện Nghiên cứu Điện tử học Nano (National Institute of Industrial Science and Technology, AIST) Nhật Bản. Và MRAM thương phẩm đã sẵn sàng trở thành hiện thực và sẽ nhanh tróng xuất hiện trong các máy tính trong một tương lai không xa.
3. Sự kêu cứu của từ tính
Silicon và Gallium Arsenide (GaAs) là hai loại vật liệu bán dẫn được sử dụng rộng rãi nhất và thử thách là tìm ra các vật liệu có sự phân cực spin – vý dụ như các vật liệu mà ở đó hầu hết các spin của điện tử bị định hướng theo một chiều nhất định – có thể tổ hợp được với chúng. Ứng cử viên đầy hứa hẹn là các vật liệu bán dẫn pha loãng từ (Dilute magnetic semiconductors – DMS) là các vật liệu bán dẫn được pha tạp các nguyên tố khác sao cho nó tạo ra tính sắt từ.
Vào năm 1999, hai nhóm nghiên cứu đã độc lập tiêm các điện tử phân cực spin từ một vật liệu bán dẫn từ vào GaAs. Laurens Molenkamp cùng các cộng sự ở Đại học Würzburg (Đức) đã giữ được 90% độ phân cực khi tiêm các spin từ bán dẫn phân cực spin vào cấu trúc GaAs ở nhiệt độ thấp, mặc dù nguồn tiêm bán dẫn đòi hòi từ trường ngoài để giữ độ phân cực. Mặt khác, nhóm nghiên cứu của Hideo Ohno ở Đại học Tohoku, Nhật Bản cùng với nhóm hợp tác của David Awschalom ở Đại học California, Santa Barbara (Mỹ) cũng tạo nên một “kì công” tương tự khi tiêm spin phân cực từ một DMS mà không đòi hỏi từ trường ngoài, mặc dù các nhà nghiên cứu chỉ đạt được độ phân cực spin tiêm vào là 1%. Đồng thời, các thý nghiệm này cũng chứng tỏ rằng có thể tiêm spin vào một chất bán dẫn, và phát triển một linh kiện thực tế, bước tiếp theo sẽ là tìm kiếm một vật liệu bán dẫn pha loãng từ mà có thể cho phép tiêm spin một cách mạnh mẽ ở nhiệt độ phòng mà không nhờ đến sự trợ giúp của từ trường ngoài.
Năm 2000, Thomas Dietl (Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan, Vácxava, Ba Lan) đã tạo nên một đột phá quan trọng cho vấn đề này. Thomas đã chỉ ra rằng nhiệt độ cao nhất (nhiệt độ Curie) mà tính sắt từ còn tồn tại trong các vật liệu bán dẫn pha loãng từ có thể tăng một cách đáng kể khi chúng được pha tạp với hàm lượng tăng dần của các các phần tử từ tính (vý dụ như Co, Mn…). Các tính toán của Thomas dựa trên một khái niệm ban đầu được giả thiết bởi nhà vật lý Mỹ Clarence Zener vào những năm 1950s, mà ở đó tương tác giữa các mômen từ của các nguyên tử tạp chất bị cầm tù (localized) và các lỗ trống được giải phóng (delocalized) trong chất bán dẫn có thể dẫn đến việc định hướng các mômen từ như trong các chất sắt từ. Hơn nữa, hiệu ứng này có thể khắc phục hiệu ứng hủy định hướng gây ra bởi nhiệt độ cao. Đáng kể nhất là, các tính toán của Thomas Dietl đã giả thiết rằng các vật liệu bán dẫn sử dụng phổ biến là kẽm ôxit (ZnO), GaAs với sự pha tạp đủ mức, có thể tạo ra hiệu ứng sắt từ tốt ở trên cả nhiệt độ phòng, và do đó như một ánh sáng lóe lên cho những sự nỗ lực để phát triển các vật liệu bán dẫn pha loãng từ.

Tuy nhiên, tìm ra một vật liệu mà có độ phân cực spin tốt ở trên nhiệt độ phòng không chỉ là một thử thách trong việc phát triển các công cụ tiêm spin thực tế. Đầu tiên, cần có một độ phân cực spin lớn để có thể tiêm đủ các điện tử phân cực spin vào chất bán dẫn. Thứ hai, phải có khả năngn điều khiển tính chất của các lớp chuyển tiếp tạo ra khi mà các vật liệu là nguồn tiêm được lắng đọng trên các chất bán dẫn. Tong khi phát triển các lớp tiếp xúc từ chui hầm vào những năm 90, các nhà nghiên cứu đã biết được rằng tính chất của một vài lớp nguyên tử sát gần với lớp chuyển tiếp có một ảnh hưởng đáng kể lên hiệu suất tiêm spin. Điều này là do một sự chộn lẫn hóa học nhỏ giữa các lớp có thể dẫn đến sự tán xạ của các điện tử đến các trạng thái mới và do đó thực chất một lượng nhỏ hơn các điện tử có thể đi qua lớp chuyển tiếp mà vẫn giữ được độ phân cực. Đã rất khó có thể điều khiển được tính chất của các vật liệu bán dẫn từ ở dạng khối, và vì thế còn khó khăn hơn khi mà vật liệu được lắng đọng ở dạng màng mỏng trong các linh kiện. Đạt được một lớp chuyển tiếp đủ sạch giữa các vật liệu bán dẫn từ và chất bán dẫn do đó vẫn tạo ra một thử thách không nhỏ cho các nhà nghiên cứu trong quá trình xây dựng các linh kiện spintronic dựa trên vật liệu bán dẫn từ.

4. Ảo tưởng chui hầm
Tuy nhiên, có một cách tiếp cận khác một cách căn bản để đạt được sự tiêm spin. Trong khi nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào các vật liệu bán dẫn pha loãng từ thì một số khác lại lập luận rằng nếu như các điện tử phân cực spin có thể truyền qua một lớp chuyển tiếp giữa chất bán dẫn và kim loại sắt từ thì kim loại đó có thể sử dụng như một bộ phân cực spin cực kì hiệu quả. Hơn nữa, tiếp xúc kim loại – bán dẫn đã được nghiên cứu nhiều thập kỉ trước, và do đó sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc điều khiển các tính chất của lớp tiếp xúc trong các cấu trúc linh kiện này.
Vào cuối những năm 1990, nhiều nhóm nghiên cứu đã cố gắng để tiêm các điện tử phân cực từ các kim loại và hợp kim sắt từ lắng đọng trực tiếp trên GaAs nhưng độ phân cực đạt được trong những nghiên cứu tiên phong này chỉ đạt được cỡ vài phần trăm. Một ngọn gió mới đã thổi bùng các ý tưởng vào năm 2000 khi mà Georg Schmidt cùng các cộng sự ở Đại học Würzburg sử dụng một mô hình đơn giản của mạng điện trở để chỉ ra rằng độ phân cực spin gần 100% có thể phải cần trong các kim loại sắt từ để có thể tiêm một độ phân cực spin hữu ích vào trong chất bán dẫn. Độ phân cực spin cao như vậy hoàn toàn có thể đạt được trong thực tế, do đó chỉ trong một thời gian ngắn, dường như là các chất tiêm spin cho chất bán dẫn chỉ có một lối thoát duy nhất này.

Hình 5. Tiêm và ghi nhận spin theo kiểu điện - quang.

Tuy nhiên, cách nhìn này lại trở lại điểm xuất phát gần như ngay lập tức khi Emmanuel Rashba (MIT) nhận ra rằng việc tạo ra một rào thế chui hầm giữa kim loại sắt từ và chát bán ẫn có thể giải quyết vấn đề này. Ông dự đoán rằng độ phân cực spin trong các kim loại dẫn điện có thể được giữ nguyên trong suốt quá trình chui hầm, và do đó rào thế này tương tự như một tiếp xúc từ chui hầm. Theo đó, một sự nỗ lực đã được dự tính là thúc đẩy việc nghiên cứu độ phân cực spin được tiêm trong một cấu trúc kim loại sắt từ – gallium arsenide và do đó chất bán dẫn này đã tạo ra một thế chui hầm kiểu Schottky ở lớp tiếp xúc. Té ra là loại cấu trúc này cũng chứng minh được khái niệm spin-LED: khi một điện tử phân cực được tiêm từ một lớp sắt từ vào một chất bán dẫn, nó sẽ tái hợp với một lỗ trống và kết quả là phát ra một ánh sáng phân cực tròn (Trong các LED cổ điển, ánh sáng phát ra là không phân cực do điện tử vào lỗ trống tái hợp là không phân cực). Nhiều nhóm nghiên cứu hiện nay đang cố gắng khai thác hiện tượng này để phát triển linh kiện spin-LED thực tế.
Tuy nhiên, do số các điện tử phân cực spin có thể cho nó đi qua rào thế phụ thuộc vào các tính chất của nó, một số nhà nghiên cứu đã thử thay thế rào thế Schottky bằng một lớp mỏng điện môi để cố tăng tín hiệu tiêm spin trong các hệ kim loại sắt từ – bán dẫn. Vào năm 2003, Pol Van Dorpe cùng các cộng sự ở Trung tâm Vi điện tử liên đại học (Interuniversity Microelectronics Centre, IMEC), Leuven, Bỉ đã đạt được một độ phân cực spin hơn 20% ở nhiệt độ thấp với lớp điện môi Al2O3. Hai năm sau đó, nhóm của Parkin ở IBM đã chỉ ra rằng sử dụng MgO là lớp điện môi có thể cải thiện được chất lượng nhưng độ phân cực tiêm vào lại rất nhạy với cấu trúc tinh thể của vật liệu rào thế.
Trong lúc đó, sự tiến triển cũng đang được tạo ra trong một số thử thách lớn đòi hỏi phải vượt qua để xây dựng một linh kiện spin: ghi nhận spin. Một cách để thực hiện điều này là đảo ngược sự phát triển để cho phép một spin-LED có thể làm việc. Bằng cách chiếu một ánh sáng phân cực vào rào thế Schottky kim loại sắt từ – GaAs dị thể, một đám các điện tử phân cực spin sẽ được sản sinh trong đế GaAs (theo quy tắc lọc lựa quang học cho chất bán dẫn này). Các điện tử này có thể chui hầm trở lạii qua rào thế Schottky vào vùng kim loại sắt từ, nơi mà chúng sẽ được ghi nhận tín hiệu điện và do đó tạo ra một cách ghi nhận spin. Vào năm 2004, nhóm của Bland ở Cambridge sử dụng cấu trúc kiểu này để chỉ ra rằng hiệu ứng này tạo ra một hiệu điện thế phụ thuộc vào phần trăm điện tử trong kim loại sắt từ bị phân cực. Và từ đó, nhóm đã nhận thấy rằng bằng cách thay thế đơn lớp kim loại sắt từ với một cấu trúc đa lớp kim loại kiểu spin-valse GMR (hai lớp kim loại sắt từ ngăn cách bởi một lớp kim loại phi từ, và thêm một lớp phản sắt từ ghim từ độ của một lớp sắt từ), dòng điện chạy vào lớp kim loại có thể được xác định một cách riêng biệt từ dòng điện chạy trong lớp bán dẫn cho cấu trúc spin-valse tác động như một cổng mà cho phép đóng hay mở dòng điện chạy vào lớp kim loại nhờ sự định hướng của từ độ của lớp kim loại sắt từ. Sử dụng cấu trúc spin-valse trong cách này cho phép định lượng hiệu ứng lọc spin của lớp chuyển tiếp và do đó có thể xác định được độ phân cực của dòng điện được ghi nhận.

5. Các vấn đề về lớp interface
Sáu năm sau tiên đoán của Dietl về nhiệt độ Curie của một số vật liệu bán dẫn pha loãng từ có thể tăng một cách đáng kể với sự pha tạp của các nguyên tố sắt từ. Và đến nay vẫn chưa ai tìm ra được một vật liệu bán dẫn sắt từ nào thích hợp để có thể hoạt động ở nhiệt độ phòng và có thể sử dụng trong thực tế của các linh kiện bán dẫn spintronic. Trong khi những cố gắng phát triển kỹ thuật spintronic dựa trên vật liệu bán dẫn từ vẫn còn đang tiếp tục thì những sự phát triển đáng ghi nhận của công nghệ tiếp xúc từ chui hầm đã đem lại một sự thúc đẩy lớn lao cho vệc sử dụng các kim loại sắt từ tổ hợp với các chất bán dẫn. Trong khi mà các kim loại chuyển tiếp sắt từ không tạo ra độ phân cực spin 100% thì điều này có thể không cần thiết cho một linh kiện thực: lí thuyết đã dự đoán rằng bằng cách điều khiển cấu trúc và thành phần của các lớp interface, và sử dụng các rào thế thích hợp các hệ kim loại sắt từ trong tương lai có thể tạo nên sự tăng cường một cách đáng kể sự truyền qua của spin thông qua các vật liệu tiêm/ghi nhận spin.
Sự phát triển đầy thành công của các lớp tiếp xúc từ chui hầm đã chỉ ra rằng tính chất của một vài lớp nguyên tử gần với interface có những ảnh hưởng tới hạn lên sự truyền spin. Trong tương lai, sẽ rất quan trọng cho việc điều khiển một cách chính xác cấu trúc của vật liệu được sử dụng trong các linh kiện spintronic bán dẫn bằng cách tạo ra một sự liên quan giữa sự định hướng tinh thể của lớp interface và của các vật liệu dùng để tiêm và ghi nhận spin và rõ ràng là có rất nhiều lộ trình mới đầy hứa hẹn cho nghiên cứu. Trong khi khó có thể nói rằng nó sẽ tốn thời gian bao lâu, nhưng dường như càng ngày càng thấy rõ là cuộc cách mạng spintronic bán dẫn sẽ được tăng tốc bởi các linh kiện sử dụng các màng mỏng kim loại chuyển tiếp như đã được sử dụng trong MRAM và các linh kiện sử dụng các lớp tiếp xúc từ chui hầm.

Tóm lại:
· Cùng với điện tích, điện tử có mômen động lượng nội tại, hay là spin, có thể định hướng theo hai chiều (up và down) theo chiều của từ trường ngoài.
· Spin của điện tử hiện tại đã được khai thác trong ổ cứng của các máy tính và trong bộ nhớ RAM từ điện trở thông qua hiệu ứng từ điện trở khổng lồ và từ điện trở chui hầm xảy ra trong các màng mỏng kim loại đa lớp.
· Các linh kiện bán dẫn khai thác spin cũng như là điện tích sẽ hoạt động nhanh hơn rất nhiều so với các linh kiện vi điện tử truyền thống và còn đem lại nhiều tính năng mới.
· Thử thách chính để xây dựng nên các linh kiện này là sự chuyển vận một cách hiệu quả các điện tử phân cực spin vào trong và ra ngoài vùng bán dẫn trong các linh kiện.
· Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang đi theo hai cách tiếp cận để tiêm và ghi nhận spin: sử dụng các chất bán dẫn pha loãng từ lắng đọng trên các chất bán dẫn truyền thống và kim loại sắt từ lắng đọng trên các chất bán dẫn.
Tài liệu tham khảo
D D Awschalom et al. 2007 The diamond age of spintronics Scientific American 297 58
J A C Bland et al. 2005 Optical studies of electron spin transmission Ultrathin Magnetic Structures IV (ed) B Heinrich and J A C Bland (Springer, New York) pp59–100
T Dietl 2003 Dilute magnetic semiconductor: functional ferromagnets Nature Materials 2 646
B T Jonker and M E Flatté 2006 Electrical spin injection and transport in semiconductors Nanomagnetism (ed) D L Mills and J A C Bland (Elsevier, Amsterdam) pp227–272
H Ohno et al. 2000 Electric-field control of ferromagnetism Nature 408 944
S A Wolf et al. 2001 Spintronics: A spin-based electronics vision for the future Science 294 1488
I Zutic et al. 2004 Spintronics: fundamentals and applications Rev. Mod. Phys. 76 323

19/04/2012

Điều khiển spin bằng ánh sáng: giấc mơ spintronics tốc độ cao liệu có thành hiện thực?

Spintronics – cơn sốt trên thế giới trong hơn 2 thập kỷ qua và được cho là công nghệ tiếp theo thay thế cho công nghệ điện tử đương thời. Nếu như công nghệ điện tử đương thời sử dụng điện tích của điện tử làm đơn vị căn bản (điện tích à dòng điện) thì công nghệ spintronics lại lấy spin của điện tử (spin à dòng spin) làm căn bản. Điều khiển điện tích thường đòi hỏi năng lượng cao, khó tạo ra khả năng lưu trữ không tự xóa, tốc độ chậm và dễ bị nhiễu điện tử; còn điều khiển dòng spin lại hoàn toàn “mềm mượt” không nhiễu, tốc độ cao hơn dòng điện tử và khả năng lưu trữ gần như vĩnh cửu. Vấn đề cấp bách nhất hiện nay của spintronics – công nghệ điều khiển dòng spin, là hiện thực hóa bài toán năng lượng – tạo ra linh kiện tiêu tốn ít năng lượng hơn so với công nghệ điện tử truyền thống như được “quảng cáo” ban đầu. Trên thực tế thì công nghệ spin phổ biến vẫn sử dụng các lực truyền thống (dòng điện tử spin) để điều khiển (dù sao vẫn có gì đó không được khoái cho lắm về tốc độ). Nhìn sang các linh kiện quang, các nhà nghiên cứu vẫn ấp ủ giấc mơ kết hợp với các linh kiện quang để tạo ra các linh kiện spintronics siêu tốc bởi ai cũng biết ánh sáng có tốc độ nhanh thế nào. Giấc mơ ấy vẫn đang được miệt mài nghiên cứu trên các vật liệu có khả năng đảo từ nhờ ánh sáng.

Hơn 25 năm trước (chính xác là 27 năm), lần đầu tiên một linh kiện kết hợp giữa từ và quang chính thức được thương mại hóa tại Mỹ bởi NEXT Computer và sau đó nhanh chóng bị “cướp” mất thị phần bởi hãng SONY (Nhật Bản). Thiết bị lưu trữ này được gọi là “ổ quang từ” – Magneto-Optical Drive (MO drive). Ổ đĩa này tương tự như một đĩa mềm, sử dụng các vật liệu từ. Thông tin được ghi bằng cách dùng một chùm laser đốt nóng vật liệu đến gần nhiệt độ Curie và cho phép ghi dễ dàng nhờ đầu từ. Thông tin lại được đọc bằng chính chùm laser nhờ hiệu ứng quang từ (Magneto-Optical Kerr Effect). Nhờ cách này, các “đĩa mềm” MO dễ dàng tạo ra các bộ lưu trữ có dung lượng vài GB (lớn hơn ổ CD rất nhiều lần) và tốc độ đọc ghi nhanh hơn nhiều so với các ổ quang CD/DVD. Tuy nhiên, thị trường của MO cũng suy giảm một cách nhanh chóng do giá thành quá cao khiến chúng không thể cạnh tranh với các đĩa CD/DVD. Ngày nay, MO chỉ còn được bán rất ít ở Nhật Bản và dường như chỉ mỗi SONY còn giữ bản quyền về thiết bị này.

Hình 1. Nguyên lý điều khiển spin: photon từ xung laser tương tác với mômen từ đang chuyển động xoắn và giúp chúng quay đi (Physics 5, 41 (2012)).).

Đó là chuyện công nghệ ghi quang từ cổ điển. Ngày nay, các nhà nghiên cứu spintronics lại trở lại với giấc mơ “quang – từ” với việc tìm ra các vật liệu có thể tương tác trực tiếp với ánh sáng mà không cần đến từ trường ngoài. Trong một thành tựu gần đây nhất, nhóm nghiên cứu lãnh đạo bởi GS. Theo Raising (Radboud University Nijmegen, Hà Lan) đã chế tạo thành công một vật liệu orthoferrite cho phép đảo trực tiếp từ độ của mẫu nhờ các chùm laser xung cực ngắn (60 femto giây) được giới thiệu trong bài báo mới xuất bản trên tạp chí Physical Review Letters (de Jong et al., Phys. Rev. Lett. 108, 157601 (2012)). Vật liệu được xử dụng là orthoferrite Sm0.5Pr0.5FeO3 đơn tinh thể, chùm laser xung có bước sóng 800 nm và độ rộng 60 fs được phân cực tròn và hội tụ đến kích thước 75 µm. Ở điều kiện nhiệt độ thấp dưới 98 K, mômen từ của ion Fe3+ sẽ xoay xung quanh trục a của tinh thể, tạo ra tính sắt từ yếu. Xung laser phân cực sẽ cung cấp năng lượng cho mômen từ này nhờ tương tác giữa photon và chuyển động xoay của môen từ và đốt nóng mẫu vượt trên 130 K (nhiệt độ chuyển pha thứ 2), giúp mômen từ này quay trục chuyển động sang trục c nhờ hiệu ứng tái định hướng spin và tạo ra một sự đảo từ (tạo ra một đômen từ nghịch – như hình vẽ 2 dưới đây). Thời gian để đảo spin hoàn toàn theo cơ chế này là 5 ps, tức là nhanh gấp hàng ngàn lần so với các linh kiện spintronics khác được điều khiển bằng dòng điện tử phân cực spin. Thành tựu này được Giáo sư Noriaki Kida (Đại học Tokyo) trong một bài tổng quan (Physics 5, 41 (2012)) đánh già là một bước tiến quan trọng trong kỹ thuật điều khiển spin nhờ ánh sáng. Vậy là giấc mơ kết hợp các linh kiện spin với ánh sáng để tạo ra một thế hệ “opto-spintronics” với tốc độ siêu cao lại thêm một cơ sở để được hiện thực hóa trong một tương lai gần.

Hình 2. Kết quả về sự hình thành đômen từ nhờ điều khiển bằng chùm laser: ảnh chụp đômen từ hình thành theo thời gian chiếu chùm laser (Phys. Rev. Lett. 108, 157601 (2012)).

Thêm về nhóm Theo Raising: có lẽ đây là một trong những nhóm nghiên cứu mạnh nhất thế giới về chủ đề “Ultrafast magnetization dynamics”: điều khiển và tương tác từ tính với tốc độ siêu cao bằng ánh sáng. Theo Raising cũng được xem là chuyên gia hàng đầu về vấn đề này. Tôi còn nhớ một lần được xem seminar của ông tại Glasgow cách đây 4 năm về chủ đề này.

Đọc thêm:

N. Kida, Physics 5, 41 (2012)).

J. A. de Jong et al., Phys. Rev. Lett. 108, 157601 (2012).

T. Kampfrath et al., Nature Photon. 5, 31 (2011).

S. Parkin, G. Aeppli, and B. Hickey, Phil. Trans. R. Soc. A 369, 3553 (2011).

04/04/2012

Spin ice: con đường mới của từ học trong thế kỷ 21?

(Bài viết giới thiệu những chân trời vật lý mới của tôi trên Vật lý Việt Nam).

Vật liệu từ (magnetic materials) đã được phát triển mạnh mẽ nhất trong gần 100 năm qua, và đã có rất nhiều ứng dụng to lớn trong đời sống cũng như trong công nghệ (điện tử, y tế,…). Từ những ứng dụng đơn giản như các la bàn cổ điển từ rất xa xưa, đến các nam châm nhỏ đến lớn, các nguyên lý cơ bản của từ học đã được khám phá để tạo ra những vật liệu từ đặc biệt cho các ứng dụng công nghệ cao. Có thể nói rằng hiểu biết của con người về từ học đã khá đầy đủ (dù chưa hoàn toàn hoàn thiện) và dường như giới nghiên cứu từ học đang dần đi đến con đường cuối cùng của tìm ra những vấn đề rất mới cho từ học trong thế kỷ mới. Các vấn đề cuối cùng mang tính chất công nghệ của từ học hiện nay đang là những vấn đề nóng bỏng cho tương lai:

-          Tìm ra các vật liệu từ thích hợp cho công nghệ tương lai spintronics, trong đó bao gồm tìm kiếm các vật liệu có độ phân cực spin 100%, các vật liệu bán dẫn từ có nhiệt độ Curie cao và các môi trường có khả năng truyền tải độ phân cực spin mà không bị mất mát…

-          Tìm ra vật liệu cho các nam châm tổ hợp siêu mạnh

-          Tìm ra vật liệu có hiệu ứng từ nhiệt cho kỹ thuật làm lạnh từ nhiệt không gây ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng

-          Các vật liệu từ tính tạo ra bằng cách kết hợp các mômen từ nguyên tử – nam châm phân tử.

Một thách thức cho ngành từ học là tìm ra một con đường mới, nhằm vạch ra những hướng nghiên cứu mới cho tương lai xa trong thế kỷ 21 và sau đó.

Từ năm 1931, nhà vật lý người Anh Paul Dirac đã đưa ra giả thiết về các đơn cực từ. Nếu đơn cực từ được chứng minh là tồn tại, nó sẽ giúp cho việc phát triển của lý thuyết trường lượng tử và các lý thuyết thống nhất. Nhưng trong nhiều năm, chưa từng có một bằng chứng thực nghiệm nào chứng minh được sự tồn tại của đơn cực từ và các nhà vật lý thường cho rằng: đơn cực từ không tồn tại.

Hình 1. Cấu trúc spin trong spin ice.

Năm 2008, các nhà vật lý từ Đại học Oxford (Anh quốc) cùng kết hợp với các đồng nghiệp ở Dresden (Đức) và Princeton (Hoa Kỳ) đã công bố một kết quả mới rất đáng chú ý về khả năng tìm ra đơn cực từ từ việc nghiên cứu các vật liệu phân tử spin ice (1). Đây vẫn là các vật liệu rắn, nhưng có cấu trúc mômen từ rất giống với cấu hình của nước: tức là các spin được tạo ra từ bốn nguyên tử nằm trên một tứ diện (tương tự như cấu trúc tinh thể của nước đá). Bốn mômen từ này liên kết với nhau thông qua tương tác phản sắt từ và định hướng bất thỏa với nhau. Trường tinh thể mạnh bắt buộc các mômen từ phải hướng ra ngoài theo trục của tứ diện. Ở nhiệt độ thấp (dưới 2K), cấu trúc này cho phép tạo ra một chuẩn hạt mang một đơn cực từ, và độ lớn được xác định là 5 Bohr magneton. Nghiên cứu này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về các vật liệu spin ice như một hướng nghiên cứu cơ bản đầy triển vọng trong từ học, hứa hẹn những đóng góp lớn cho việc xây dựng lý thuyết thống nhất, và như một luồng gió mới thổi vào ngành từ học đang bắt đầu đi đến bế tắc.

Hình 2. Mô hình tạo mômen đơn cực từ trong spin ice.

Tham khảo và đọc thêm

(1) C. Castelnovo et al., Nature 541, 42-45 (2008).

(2) S. T. Bramwell et al., Nature 461, 956-959 (2009).

(3) D. J. P. Morris et al., Science 326, 411-414 (2009).

(4) Michel J. P. Gingras, Science 326, 375-376 (2009).

(5) W. R. Branford et al., Science 335, 1597-1600 (2012).

(6) http://physicsworld.com/cws/article/news/40673

24/02/2012

Công nghệ gì mới trong ổ đĩa cứng siêu mỏng mới nhất của Hitachi?

Mới đây, Hitachi Global Storage Technologies vừa giới thiệu một sản phẩm lưu trữ đĩa cứng mới nhất với dung lượng lên tới 500 GB với kích cỡ nhỏ 2,5 inch mà lại có độ dày siêu mỏng 7 mm (mỏng hơn một chiếc iPhone), và lại đạt tốc độ vòng quay lên tới 7200 vòng/phút. Đặc biệt là nó chỉ tiêu tốn một công suất rất thấp là 1,8 W cho mỗi lần đọc/ghi. Sản phẩm này bắt đầu được quảng cáo chính thức trên trang chủ của Hitachi GST và sẽ bắt đầu được bán ra thị trường vào tháng ba năm nay. Đây được xem là một tiến bộ nhảy bậc trong công nghệ đĩa cứng hiện nay và sẽ góp phần tích cực vào việc làm giảm độ dày của các ultrabook, tăng dung lượng lưu trữ, giảm khối lượng. Nếu tính theo mật độ lưu trữ, sản phẩm này đạt mật độ lưu trữ lên tới 630 Gbits/inch2, tức là cao kỷ lục hiện nay, vượt mức giới hạn so với công nghệ lưu trữ từ tính hiện tại. Mức độ tiêu thụ điện năng của sản phẩm này cũng được đánh giá là tuyệt vời với việc chỉ tiêu tốn có 1,8 W cho mỗi lần đọc/ghi, và chỉ tốn có 0,1 W cho chế độ ngủ – tức là có thể cạnh tranh được với các ổ đĩa thể rắn hiện nay. Đồng thời, nó có thể chịu được những sốc mạnh lên tới 1000G/ms. Cùng với bộ nhớ đệm lớn lên tới 32 MB, tốc độ quay lớn tới 7200 rpm cho phép tốc độ truyền dữ liệu lên tới 1,3 GB/s, một tốc độ tuyệt vời ở các đĩa cứng hiện nay. Vậy lý thú đằng sau sự tiến bộ công nghệ này là gì?

Thông tin lưu trữ trên bề mặt đĩa cứng: mỗi vùng là một bit thông tin được hình thành nhờ từ trường từ hóa của đầu ghi, có khả năng lưu trữ như một nam châm siêu nhỏ (ảnh từ wikpedia.org).

Trong đĩa cứng, thông tin được lưu trữ trên các đĩa tròn, là các màng mỏng vật liệu từ cứng. Để ghi thông tin, đầu đọc của đĩa tạo ra một từ trường (nhờ dòng điện chạy qua một cuộn dây siêu nhỏ – chính là thông tin được mã hóa) và từ hóa một vùng nhỏ trên đĩa. Vùng này sẽ trở thành một nam châm siêu nhỏ (nếu như mật độ thông tin là 630 Gbits/inch2 thì vùng này sẽ có kích thước khoảng 20 nm2). Để đọc thông tin, đĩa sẽ được quay với tốc độ cao cho phép đầu đọc có thể định vị vị trí các bit thông tin. Chính vì sự quay cơ học, thời gian truy xuất của đĩa cứng là khá cao (tới cấp độ mili giây), và nó thường dễ bị hỏng do những va đập cơ học.

Hai công nghệ ghi từ: công nghệ ghi ngang cổ điển (longitudinal recording) và công nghệ ghi vuông góc hiện tại (perpendicular recording). Công nghệ longitudinal recording không cho phép tạo ra mật độ lưu trữ cao và đã bị khai tử từ đầu những năm 2000 sau hơn 20 năm nghiên cứu về công nghệ ghi vuông góc.

Để tạo mật độ thông tin cao, người ta cố gắng tạo ra bit thông tin càng nhỏ càng tốt. Nhưng nếu bit thông tin (là các vùng như các nam châm siêu nhỏ) càng nhỏ, thì từ tính của nó sẽ bị phá vỡ bởi năng lượng nhiệt và hoàn toàn không thể giảm tới kích cỡ quá nhỏ. Một đột phá (được đưa ra từ cuối những năm 1970 và phải tận đầu thế kỷ 21 mới được thương mại hóa mạnh mẽ) là việc sử dụng các màng mỏng từ có từ độ vuông góc với mặt phẳng đĩa (gọi là kỹ thuật ghi vuông góc), và phát triển các màng mỏng từ cứng có độ cứng (độ cứng từ học) rất lớn – độ cứng ở đây được hiểu là độ khó bị từ hóa và bị khử từ cho phép giảm kích thước bit thông tin xuống một vài bậc. Các vật liệu được sử dụng là CoPt, FePt… Tuy nhiên, công nghệ này vẫn gặp khó khăn là khi vật liệu từ cứng càng “cứng”, có nghĩa là rất khó để từ hóa nó, việc ghi thông tin sẽ trở nên khó khăn hơn. Do đó, việc giảm kích thước bit thông tin quá nhỏ bị cản trở. Hơn nữa, vùng từ hóa trên thực tế không thể giảm nhỏ tùy ý vì bị vướng bởi giới hạn vách đômen từ (đó là giới hạn cuối cùng của công nghệ đĩa cứng – không gì vượt qua được).

Ảnh chụp ổ cứng IBM Ultrastar 36ZX với nhiều đĩa ghi từ xếp lớp (Theo IBM).

Trở lại với ổ cứng của Hitachi, có lẽ đây là ổ cứng “tuyệt vời” nhất hiện nay:  dung lượng lớn, tốc độ cao, nhỏ gọn, siêu mỏng mà lại tiêu tốn rất ít năng lượng (ngoài ra còn được giới thiệu thêm các khả năng chống sốc và chống ồn không chê vào đâu được). Bình luận về sự siêu mỏng là một điều tuyệt vời, chúng ta lại cần nhớ là, một ổ đĩa bình thường sẽ phải dùng đến rất nhiều các đĩa xếp chồng lên nhau để tăng dung lượng khiến cho chúng không thể quá mỏng. Hitachi đã giải quyết vấn đề độ dày bằng cách chỉ sử dụng một đĩa duy nhất. Như vậy, then chốt đột phá công nghệ ở đây là sự vượt bậc về mật độ thông tin mà ở đây là việc giảm kích thước bit thông tin mà tôi đề cập ở trên. Ngoài ra, việc đọc các bit thông tin siêu nhỏ với công nghệ hiện tại với độ nhiễu cực thấp cũng đòi hỏi một sự tiến bộ lớn về mặt cảm biến từ trường và công nghệ chống nhiễu. Vậy công nghệ nào cho phép Hitachi đạt được điều này? Tất nhiên đây còn là một điều bí mật công nghệ, nhưng tôi dự đoán có hai công nghệ có thể giúp cho Hitachi đạt được điều này.

Ảnh mô tả Hitachi Travelstar Z5K500 mỏng và nhỏ chỉ như một chiếc smart phone siêu mỏng hiện nay (mô tả của http://www.unitedgadget.com).

Thứ nhất là công nghệ ghi từ với sự hỗ trợ của nhiệt (Heat-assisted magnetic recording – HAMR). Như tôi nói ở trên, với các vật liệu có độ cứng từ quá lớn (cho bit thông tin siêu nhỏ) thì việc ghi từ bằng đầu ghi từ trường truyền thống là hầu như không thể (do vật liệu có lực kháng từ quá lớn). Để giúp cho việc ghi từ, người ta sử dụng một đầu laser hội tụ gắn vào đầu ghi. Tia laser sẽ được hội tụ lên màng mỏng và đốt nóng màng (có thể tới 200-300oC), và làm yếu đi từ tính của màng mỏng từ, qua đó cho phép ghi từ dễ dàng. Sở dĩ công nghệ này còn chưa phổ biến vì việc khó khăn trong việc tìm vật liệu thích hợp, có khả năng biến đổi tính chất thuận nghịch dưới tác dụng nhiệt. Hãy tưởng tượng là vật liệu bị đốt nóng bởi tia laser, khả năng định hướng từ của nó bị yếu đi và cho phép từ trường từ đầu ghi có thể dễ dàng đảo từ để ghi thông tin. Nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc tính chất từ sẽ bị yếu đi bởi đốt nóng, và liệu sau khi hết đốt nóng, nó có trở lại tính định hướng mạnh như trước hay không lại là chuyện hoàn toàn khác, hoặc theo thời gian của sự đốt nóng, từ tính có bị suy giảm đi như thế nào. Nếu nó suy giảm nhanh thì chỉ trong một thời gian ngắn, khả năng lưu giữ thông tin sẽ bị biến mất. Đây chính là những vướng mắc của công nghệ này.

Nguyên lý công nghệ ghi từ có hỗ trợ nhiệt (http://www.zdnetasia.com).

Công nghệ thứ hai, được xem là công nghệ cuối cùng của ổ đĩa cứng là bit-patterned media (BPM) – tôi không rõ nên dịch sang tiếng Việt là gì. Ở công nghệ này, người ta sẽ sử dụng các công nghệ lithography (mà chủ yếu là dùng chùm điện tử), tạo ra các bit riêng rẽ là từng chấm từ có độ dị hướng cao, tức là định nghĩa riêng biệt các bit, cho phép tạo ra bit siêu nhỏ ngăn cách nhau mà không đòi hỏi vật liệu quá cứng về từ tính. Theo tính toán, công nghệ này có thể cho mật độ lưu trữ tối đa tới hơn 3 Tbits/inch2 (tức là trên 3000 Gbits/inch2). Nhưng công nghệ này bị vướng víu ở khâu thương phẩm vì công nghệ chế tạo quá chậm và đắt. Nếu Hitachi sử dụng công nghệ này, sản phẩm sẽ rất khó có giá thành thấp. Nếu sử dụng công nghệ này, thì fabrication sẽ là một khâu then chốt.

Ảnh chụp SEM các chấm riêng rẽ trong công nghệ bit-patterned media (ảnh từ Physorg.com).

Sở dĩ tôi nghĩ đến hai công nghệ trên đây vì trước đây, khi gặp phải khó khăn trong việc cạnh tranh với Seagate trong công nghệ đĩa cứng truyền thống và nhận ra giới hạn của công nghệ, Hitachi đã bán thị phần nghiên cứu về đĩa cứng truyền thống cho Seagate và chỉ còn giữ lại duy nhất hai hướng nghiên cứu này. Việc công bố sản phẩm thương phẩm nhảy vọt này của Hitachi nă nay là một bất ngờ lớn vì theo tôi biết thì cho đến giữa năm 2011, các nhà nghiên cứu của Hitachi ở Nhật (và Mỹ) chưa công bố một nghiên cứu nào nhảy vọt về 2 công nghệ này. Sự thật công nghệ là gì có lẽ tôi không thể khẳng định. Tôi ước có thể có trong tay một sản phẩm này để mở ra và phân tích, tìm hiểu rõ nó là gì.

Next Page »

Theme: Rubric. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.